Ai Huu Trung Hoc Le Van Duyet
Trường Trung Học Lê Văn Duyệt - LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA  
  Chào Du Khách. Xin Gia nhập hay Ghi Danh
 


Nếu gặp trở ngại kỹ thuật khi ghi danh vào diễn dàn, xin vui lòng liên lạc ngdangmy@gmail.com

  Kho Hình Trang chánhTrợ giúp Tìm kiếmGia nhậpGhi Danh  
 
Page Index Toggle Pages: 1
Send Topic In ra
LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA (Read 395 times)
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
27. Nov 2011 , 01:39
 
LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA 


LÊ HOÀNG LAN ( Parris )
Người vợ lính năm xưa
HTTP//: www.mattranquocgia.wordpress.com

Đã 36 năm , miền Nam VN bị  quân  Cộng sản Bắc việt  bức tử .  Bao nhiêu quân cán chính của chế độ Cộng Hòa  phải chịu ngậm đắng nuốt cay  , chân cùm tay xích  ,chấp nhận sự đày ải của bọn  ác thú  mà đi vào chốn tù giam  nhục nhã ! ! Và cũng không biết có bao nhiêu cái chết  oan khiên dành cho những người dân vô tội  không một tấc sắt trong tay ?   Trên biển đông ,  trong rừng thẳm ,  cho những kẻ đi tìm TỰ DO  , người dân VN đã liều chết ra đi không  màng sự sống
Đã 36 năm rồi đó càng nhớ càng ngậm ngùi đau xót . Đau xót cho những thân phận lưu vong không một lần trở lại với quê xưa .  Đau xót cho những tấm lòng trung trinh cùng tổ quốc  và cũng đau xót cho những kẻ PHẢN BỘI   quê hương quay về  vui sống làm ăn cùng bọn quỷ đỏ . Tôi đã bao lần trăn trở  với nổi đau ƯỚC MƠ KHÔNG THÀNH  SỰ THẬT  .
Những năm tháng đầu tiên khí thế chống cộng sản rất cao .  Người ta một lòng tin tưởng mảnh liệt vào những tổ chức , phong trào  chống cộng ,  kháng chiến , phục quốc …… Ai cũng mơ một ngày về , một ngày quang phục với cờ vàng phất phới trên tay  , quay về với mảnh đất , luống vườn ….. Người ta  không tiếc công tiếc của  chỉ mong  tiêu diệt được bọn cầm thú  . Nhưng …. người ta đã  tuyệt vọng , trước những việc làm dối trá  , gian manh của bọn người không còn lương tâm  , trí óc  . Tiền bạc , chức tước , danh vọng đã   che lấp đi những lời thề với  tổ quốc   quê hương  . Người ta đã quên  đi những phút giây kinh hoàng , sinh tử  , những giọt nước mắt đau thương  …..Họ đành lòng BÁN RẺ  anh em  , ĐÂM  sau lưng chiến sĩ , bạn bè  .  Ai cũng   mong ước một  nếp  sống dân chủ ,  một tiếng nói tự do  , một ý kiến xây dựng . Nhưng …. dân chủ đâu ?  Tự do  đâu  ?  Khi có kẻ nào không nghe lời họ , không làm đúng ý họ  là ngay tức khắc họ  sẽ chụp lên đầu bạn bè anh em những từ ngữ hoa mỹ chẳng hạn Việt Cộng nằm vùng hay  phẩm cách kém  đạo  đức ???   Để nâng cao tên tuổi của họ và vùi tên tuổi nạn nhân xuống đất đen  ….   Thử hỏi 36 năm  sắp trôi qua  chúng ta làm gì được cho tổ quốc  ? Hay chỉ THÙNG RỖNG KÊU TO ????  và  tạo nên những thành tích BÁT NHÁO  làm trò cười cho bọn Cộng Sản ??? Ai cũng mong một ngày trở lại  với nơi chôn nhau cắt rún  , với lũy tre xanh ,   ngọn núi , dòng sông  . Nhưng mơ ước  ấy có lẽ còn xa xôi lắm khi lòng người  vẫn chứa  đựng đầy rẫy những bon chen , ích kỷ   Tôi nhớ ngày xưa nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông  có viết ra một câu hát :
                        Lòng người còn tơ vương khanh tướng
                         Thì đường trần mưa bay gió cuốn  còn nhiều em ơi
Chỉ vì câu hát đó mà bài ca của nhạc sĩ đã bị chính phủ thời đó cấm lưu hành   . 36 năm sắp trôi qua , là người Việt tị nạn Cộng sản  không ai là không đau lòng trước cảnh ly hương , cách xa quê cha đất tổ  . Ai cũng mơ một ngày về  . Một ngày về không bóng dáng bọn Cộng Sản  ,  không có lá cờ đỏ trên đầu của chúng ta   !  Muốn được như thế chúng ta phải làm gì ?????  Phải xây dựng như thế nào cho quê hương sau  khi  bọn Cộng sản đã bị lật đổ ?  Hay chế độ nào cũng như chế độ ấy ?  Chỉ bịết  đàn áp nhân dân  , lợi dụng tuổi trẻ  và bốc hốt sức lao động  của toàn dân  để ăn sung , mặc sướng ?????
Chỉ có một cách duy nhất để giải  quyết  những con chuột  CỘNG SẢN  đang đục khoét  đang hoành hành  tàn phá quê hương  VN  hiện tại , và trong tương lai   với âm mưu phân hóa dân tộc và lãnh thổ   với  ngoại  bang : chúng ta cần phải khơi động lòng yêu nước và tinh thần quốc gia dân tộc .  Tinh thần quóc gia  dân tộc có từ thời  VĂ N LANG , HÙNG VƯƠNG LẬP QUỐC , bởi vì tinh thần quốc gia  đồng nghĩa với tinh thần  làng xã  xây dựng cộng đồng .Đó là  nền  móng của khái niệm dân chủ , đã xuất hiện lâu  từ  đời  VUA HÙNG  Những khái niệm dân chủ tái xuất hiện dưới triều Trần qua sự triệu tâp HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG . Mỗi người trong chúng ta  ai  cũng như ai đều có lòng yêu nước thương dân . Nhưng  đã từ rất lâu , vì hoàn cảnh lịch sử , hầu hết đều có tinh thần vọng ngoại . Từ đó chúng ta mất đi sáng kiến . Do đó tư tưởng độc lập
TỰ CHỦ TỰ CƯỜNG không còn nữa .
Hiện tại khi khơi động lại LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA hãy còn chưa muộn . Tuy nhiên chúng ta nên hành động theo phương pháp  nhất định . Hãy bắt đầu bằng con số không ,  rồi từ  không biến thành có  …..Từ có một , ta có hai …... Vậy thì chúng ta hãy bắt đầu  với từng nhóm nhỏ .  Chúng ta nên phát động song hành với việc  phát động  CHIẾN DỊCH KHƠI ĐỘNG LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA  Như một sự kiện mà anh em tranh đấu  người Việt quốc gia đã thực hiện tại Pháp  .  Đó là tổ chức lễ Thượng Kỳ quốc gia hàng tháng  tại Paris  thủ đô  của nước Pháp  Tuy là sự kiện nhỏ nhưng tầm mức và ảnh hưởng lớn . Chúng ta dư thừa lòng yêu nước , tinh thần tự nguyện tự giác  . Hy sinh vì quê hương , vì dân tộc và vì tổ quốc . Nhưng chúng ta quen làm việc trên tinh thần thừa hành , chớ chúng ta không quen vận hành trí  óc để thành chiến lược  quốc gia . Lời xưa nói :  có thực  mới vực được đạo lý  đã suy đồi . Vì chỉ là người quen làm việc theo  mệnh lệnh nên mất đi sáng kiến . Từ chỗ không dám suy nghĩ  nên , không dám trực diện nhìn vào thực trạng của đất nước VN . Đó là bài học xương máu từ lúc Dương Văn Minh ra lịnh cho toàn  thể quân dân miền Nam buông vũ khí ĐẦU HÀNG quân Cộng sản CHÚNG TA KHÔNG CHẤP NHẬN SỰ KIỆN ĐÓ TÁI DIỄN NỮA  Chúng ta không chấp nhận thứ tướng lãnh nào , thứ lãnh đạo nào ăn hại đái nát . Được thời ,cậy thế lập phe kết đảng phá hoại đất nước Việt Nam
Hiện tại người Việt quốc gia lưu vong tại ngoại quốc đang hiện hữu thành một cái THẾ  Nhưng cái THẾ ấy chưa thực sự có LỰC ( sức mạnh )
Nếu không biết hay vì ngu si thì một triệu , một trăm ngàn quân sẽ tan ra trong khoảng thời gian rất ngắn . Nếu biết thì chúng ta có thể biến các sự kiện tuy nhỏ thành  thế lực để đương đầu với lũ chuột cống Cộng Sản
Binh thư đời xưa đã dạy: nếu ta biêt tận dụng thì việc nhỏ thành lớn  . Hãy bắt đầu với năm ba người , từ đó năm ba người  thành một đơn vị . Nhiều đơn vị năm ba người trở thành  một lực lượng  . Đó là đơn  vị hợp đồng tác chiến hàng ngang . Năm ba người tuy ít   nhưng đồng tâm hợp lực thì trở thành   LỰC         tức là lực lượng  hay sức mạnh  . Nay đứng trước thế phân hóa ngay từ trong tư tưởng , người Việt trong tư thế chẳng đặng đừng , thời cơ đã cấp bách lắm rồi  . Mũi tên đã nằm trong cung , viên đạn  sẵn sàng trong nòng súng   . Trong lúc ta giáp mặt với đối phương , một sống một còn hoặc là ta chết  ,hai là đối phương     Hãy bỏ đi  lối đánh giặc mà còn đạo đức giả . Tranh đấu  tức là phát động chiến tranh , cần nên quyết tâm . Và cũng  nên  cần vất đi  thái độ PHÒNG THỦ THỤ ĐỘNG  khi dấn thân tranh đấu . Bỏ đi thói TỰ MÃN , khi thấy đối phương thất  thế , chúng ta phải  thừa thắng xông lên diệt địch  . Chúng ta có thế lực và thời cơ , hãy cùng nhau tạo thế Nhân Hòa . Ai hội đủ ba yếu tố  Thiên  Thời , Địa Lợi  , Nhân Hòa , người đó sẽ thắng .
Chúng ta chưa bao giờ tạo được thế Nhân Hòa , bởi vì không hiểu Nhân Hòa là gì ? Hay có chăng chỉ là hiểu lõm bõm  . Nhân Hòa   không phải  là nói chuyện giống nhau , mà là ta ngồi lại với nhau  , trò chuyện trao đổi  trong hòa khí .
Muốn tạo thế Nhân Hòa , ta thực hiện bằng hành động , hơn là kêu gọi  . Thánh nhân dạy dân không nói nửa lời ,  đó là sự làm gương . Thượng tôn hạ ti     Tôn là cao , ti là thấp , vai trò tuy khác nhau , nhưng BÌNH ĐẲNG  về tư tưởng , lớn cho ra lớn , nhỏ cho ra nhỏ  . Thế là lớn nhỏ rõ ràng , có tôn ti trật tự , có giềng mối . Làm việc hành động nhất nhất đều có mẫu mực . Thế thì làm sao có lọan ? Loạn ở chỗ lớn nhỏ  lộn xộn ,  loạn từ việc khinh thường việc nhỏ  . Lời xưa nói :  lỗ nhỏ làm đắm chìm con thuyền lớn  .
Muốn đấu tranh , tức là muốn tiến hành chiến tranh , tất nhiên phải lập  LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ  .   Kinh dịch dạy :  việc binh là việc hung hại , không phải là việc giỡn chơi , thành thử nhất nhất đều  phải có sự chuẩn bị  chi li .
Tranh đấu mà không có lực lượng quân sự , thì hóa ra khi lập nên đoàn thể , chúng ta chỉ làm trò   chơi đùa của trẻ con hay sao ????Để cuối cùng các đoàn thể  người Việt quốc gia ở ngoại quốc trở thành HỮU DANH VÔ THỰC  thùng rỗng kêu to  hay sao ????? Đó là điều đáng buồn !!!!!!
Ngày quang phục quê hương có hay không là do ở chúng  ta  . Tập thể người Việt trong và ngoài nước  có trách nhiệm   BẢO TOÀN ĐẤT TỔ . Tiền nhân của chúng ta đã tốn hao bao nhiêu xương máu để giữ gìn mảnh đất Việt Nam  Nay chẳng lẽ vì HAM SỐNG SỢ CHẾT  mà con HỒNG  cháu LẠC  đành ngoảnh mặt làm ngơ ?????   
   
LÊ HOÀNG LAN
            
( Paris 2011 /  11 )                
HTTP//: www.mattranquocgia.wordpress.com
Back to top
« Last Edit: 25. Nov 2017 , 08:04 by LAM_SON »  
 
IP Logged
 
hoangkybactien
Junior Member
**
Offline


Mưa qua biển Bắc!

Posts: 53
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #1 - 27. Apr 2013 , 11:55
 
*

Quốc Hận 30-4, Thương tiếc những Nữ Anh Thư tử chiến với giặc thù Cộng Sản

Phạm Phong Dinh

Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.

NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH

Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.

Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.

Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.

Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.

CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG

Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.

Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.

Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những "người giải phóng". Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.

Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.

Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.

Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.

Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.

Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.

Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.

Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:

- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.

Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:

- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.

Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.

Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.

Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:

- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi... bắn...

Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì "Thượng Úy" Việt cộng Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.

Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.

Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.

Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt!

Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.

Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.

Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống Cộng sản quốc tế và Cộng sản Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.


AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN

Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn Phỉ Cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.

Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.

Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.

Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..

Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.

Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến với anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.

Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.

Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .

Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất, mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng, từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn, và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc, vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người dân Nước Nam.

Phạm Phong Dinh
18/4/2013

Source: http://www.lyhuong.net/uc/index.php/bandoc/2920-2920



*
Back to top
 
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #2 - 17. Feb 2017 , 17:18
 
CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG CỤ GIEO RẮC NỖI SỢ

FB Mạnh Kim

12-2-2017
Gieo rắc nỗi sợ là một trong những “kỹ thuật” phổ biến để thu hút ủng hộ đám đông. “Người ta phản ứng với nỗi sợ chứ không phải tình thương” - Richard Nixon từng nói. Nỗi sợ khi được đẩy lên đỉnh điểm có thể làm tê liệt lý trí và mang lại sự tuân phục. Khi sợ hãi, người ta có khuynh hướng xích lại gần nhau.
Trong một đám đông sợ hãi, người ta có khuynh hướng tin vào người nào dám thách thức nỗi sợ và có thể mang lại sự bảo vệ trước nỗi sợ. Sự sợ hãi luôn là cảm xúc cực mạnh có thể lấn át mọi cảm xúc khác. Con người luôn có khuynh hướng chú ý dữ dội vào những gì gây sợ hãi. Sự sợ hãi có thể mang đến cảm giác suy sụp tức thời và mong muốn tức thời một sự cứu giúp.
Sử dụng nỗi sợ để cai trị là một trong những cách thức quen thuộc ở các chế độ độc tài. Trung Quốc là bậc thầy về sử dụng “vũ khí” nỗi sợ. “Thế lực thù địch” là cụm từ mà Trung Quốc luôn gieo rắc vào xã hội họ. Để tối ưu hóa “vũ khí” nỗi sợ, người ta sử dụng các công cụ gán ghép, quy chụp và bôi nhọ. Các cuộc biểu tình tại Trung Quốc luôn được cho là có sự kích động từ các “thế lực thù địch phương Tây”. Những người biểu tình được cho là nhận tiền từ các tổ chức nước ngoài. Những luật sư đứng lên vì người dân được cho là “thành phần nguy hiểm” chống đối chế độ.
Trong các hình thức gieo rắc nỗi sợ, thuyết âm mưu luôn là “kỹ thuật” được áp dụng triệt để. Muốn gieo cấy nỗi sợ, phải nhấn mạnh nguyên nhân mang lại nỗi sợ. Người ta kích động sự hoang mang bằng cách cho rằng có những kẻ thù trong bóng tối đang gây hoang mang và bất ổn xã hội.
Người Duy Ngô Nhĩ là “kẻ thù” như vậy. Kẻ thù nguy hiểm hơn, thậm chí nguy hiểm nhất, chính là Mỹ! Bộ máy tuyên truyền Trung Quốc chưa bao giờ ngưng quy chụp các vụ “bí mật phá hoại Trung Quốc” của Mỹ. Năm 2013, Đại học quốc phòng thuộc Quân đội Trung Quốc đã tung ra một bộ phim 90 phút miêu tả những nỗ lực của Mỹ trong việc thâm nhập xã hội Trung Quốc, để trà trộn, theo dõi và làm “phân hóa nội bộ”, để “tẩy não chính trị gia chúng ta” nhằm cuối cùng lật đổ đảng cộng sản Trung Quốc. Mỹ, như bộ phim miêu tả, đã dùng những công cụ như chương trình học bổng Fulbright, để đạt được “mục đích đen tối”…
Rất nhiều lần, bằng việc “quỷ sứ hóa” nước Mỹ, Trung Quốc cũng nhấn mạnh đến “thiết chế chính trị bất toàn” của nước Mỹ. Mục đích nhằm chứng minh thể chế chính trị Trung Quốc là “ưu việt”. Mục đích tối thượng hơn là nhằm khẳng định chỉ một nhà nước “ưu việt” như vậy mới có thể bảo vệ người dân. Nhà nước ấy mang lại tất cả cho người dân. Chỉ nhà nước ấy mới có khả năng bảo vệ người dân trước mọi đe dọa. Nhà nước ấy là trên hết. Cho đến thời điểm này, Trung Quốc đã rất thành công trong việc sử dụng vũ khí sợ hãi và vũ khí “thế lực thù địch”. Điều đó không có nghĩa chế độ Trung Quốc “ưu việt”. Điều đó cho thấy vũ khí sợ hãi chỉ là công cụ của những kẻ độc tài và cách thức đó không có đất sống trong một hệ thống báo chí tự do và cơ chế “check and balance” bằng tam quyền phân lập.

Back to top
 
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #3 - 24. Nov 2017 , 13:44
 
             Đảng Phái Chính TrịTrong Đời Sống
                 Chính Trị Của Một Quốc Gia

Lam Sơn

Chính đảng là một đoàn thể chính trị cao nhất trong một nước, và chính đảng là tổ chức nắm quyền lãnh đạo của đại đa số quốc gia trên toàn thế giới, từ chế độ quân phiệt, cộng sản, xã hội cho đến tự do. Nhưng tùy theo chủ trương mà các đảng áp dụng những đường lối cai trị - hoặc lãnh đạo - khác nhau, đôi lúc phải uyển chuyển theo nhu cầu và hoàn cảnh cũng như không gian cũng như thời gian để thích hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia một.
Đối với các xứ văn minh Âu-Mỹ, chính đảng ảnh hưởng rất lớn trong đời sống chính trị của quốc gia. Chính người dân, qua lá phiếu, đã đưa các chính đảng luân phiên lãnh đạo đất nước và điều hành guồn máy quốc gia.Nhưng xét về phẩm và lượng thì có thể nói rằng các đảng Tây Phương thường đặt vấn đề quyền lợi của đảng lên trên tất cả.
Như chúng ta đã thấy, họ cần số lượng đảng viên thật đông đảo, để vừa làm hậu thuẩn chính trị vừa mục đích kiếm phiếu cho việc tham chính hoặc nắm chính quyền. Do đó vấn đề gia nhập đảng gần như không bị ràng buộc khắt khe và một khi bất đồng ý kiến thì đảng viên ra đi thật dễ dàng.
Thường thường các đảng tại Âu-Mỹ hay bạch hóa con số đảng viên để làm nền tảng cho tổ chức cũng như phô trương sức mạnh hầu thu hút người khác, đồng thời tạo uy tín cho các chương trình ứng cử. Ngoài ra, đảng cần tiếng nói đa số trong quốc hội lưỡng viện để ủng hộ đường lối chủ trương của đảng cũng như chương trình kế hoạch chính phủ.
Một đảng nào lên nắm chính quyền, dĩ nhiên, họ đặt để cán bộ vào các chức vụ then chốt trong chính phủ và áp dụng chính sách cũng như đường lối của đảng trong thời gian ấn định theo luật bầu cử của từng quốc gia một.
Hệ thống tổ chức đảng các quốc gia Tây Phương cũng phức tạp, tuy nhiên các tổ chức nhỏ, tùy theo đường lối hoạt động, họ thường hoạt động nương tựa vào các đảng lớn để tồn tại và phát triển. Điều nầy chúng ta thấy rõ nhất tại các quốc gia lớn Âu-Châu và các đảng thường chia thành hai hoặc ba khối rõ rệt.
Một điều đặc biệt của Tây Phương là tuy đối lập nhau, nhưng cùng chung một hướng là đứng về phía tư bản hoặc trung lập để luân phiên nhau lãnh đạo do lá phiếu của người dân. Đối với Tây Phương các quốc gia văn minh với những nền chính trị căn bản của tự do, trung lập hay xã hội (đúng nghĩa) thì dù những đảng có khuynh hướng khác biệt nào (trừ cộng sản) họ cũng đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên và đi theo con đường tư bản đã định sẵn.
Do đó vai trò của đảng cầm quyền cũng như đối lập không phức tạp và thù nghịch nặng nề như trong các xứ quân phiệt hoặc cộng sản. Đến giờ nầy, tại Âu-Mỹ vẫn còn tồn tại một ít đảng cộng sản và các thành phần cực tả bất mãn đang hoạt động trong vài quốc lớn như Pháp, Ý, Anh, Tây Ban Nha…
Nhưng thật ra đây là những đảng cộng sản salon, lấy xôi thịt làm mục đích tranh đấu, sống bám vào trợ cấp ân huệ của đám tàn dư cộng sản Liên sô cũ chứ chẳng còn tha thiết gì đến ‘lý tưởng vô sản’ bịp bợm của chúng nữa!
Nhưng đối với Việt Nam thì ngược lại, ở đây tôi xin đề cập đến một số ít các đảng lớn, đã có mặt từ lâu đời, họ đặt nặng vấn đề cương lĩnh, tổ chức chính trị và mục tiêu hành động hơn là hình thức mị dân để mưu đồ chính trị, đồng thời lấy lý tưởng làm phương châm phục vụ quốc gia dân tộc.
Muốn gia nhập để trở thành đảng viên, việc trước tiên phải là người có khả năng và được giới thiệu…nhất là phải qua một thời gian huấn luyện lâu dài cũng như vượt qua nhiều thử thách trước khi trở thành một đảng viên. Và, một khi được thu nạp thì đảng viên tự nguyện phát triển đảng tính và đường lối của đảng để phục vụ quốc gia dân tộc, đồng thời thi hành chỉ thị do tổ chức giao phó trong các địa bàn hoạt động. So sánh các điểm nầy, chúng ta thấy số đảng viên của các đảng lớn tại Âu-Mỹ, theo thống kê, có khi lên đến hàng triệu và hoạt động công khai với danh xưng cùng chức vụ của đảng.
Ngược lại các đảng lớn của người Việt Nam (tôi có thể gọi là chính đảng) thì số lượng đảng viên không bao giờ tiết lộ. Ngoài ra, đảng viên phải là cán bộ đủ khả năng về mọi phương diện, nhưng tất cả đều ẩn danh, hoạt động trong bóng tối theo đường lối của đảng và nhất là địa bàn hoạt động của cá nhân cũng như cơ sở địa phương bao giờ cũng được bảo mật tối đa.
Kính thưa quý vị, dấn thân vào con đường chính trị, dù tích cực với chủ trương nắm lấy quyền lực hay chỉ đơn giản làm nhiệm vụ của một người công dân tốt đối với quốc gia dân tộc, thì cá nhân không thể đơn phương hoạt động một mình mà phải dựa vào sức mạnh của tập thể để phát triển tư tưởng và tài năng.
Tập thể ở đây có thể là hội đoàn, đảng phái, quân đội hoặc tôn giáo…nhưng môi trường thích hợp và lý tưởng nhất chính là các tổ chức chính đảng. Vậy tôi xin phép được trình bày vai trò đảng phái đối với hiện tình Việt Nam, nhất là trong giai đoạn tranh đấu cứu nước hiện tại và dựng nước ngay sau ngày chế độ cộng sản sụp đổ.
Phải công nhận rằng người Việt có tinh thần yêu nước cao độ, ai cũng đau lòng trước đường lối cai trị đẫm máu, trước tình trạng bất công xã hội, trước cảnh nước mất nhà tan do tập đoàn Hà Nội bán đất nhượng biển cũng như trải thảm mời kẻ thù là Tàu cộng trở lại đô hộ đất nước thêm một lần nữa.
Người Việt với hàng trăm tổ chức tranh đấu từ trong nước ra đến hải ngoại, nhưng từ trên 35 năm qua kể từ ngày cộng sản xua quân xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta chưa làm được gì thiết thực khả dĩ đủ sức quật ngã chế độ cộng sản. Đó là vì chúng ta chưa có lãnh đạo cũng như sách lược dẫn đường.
Đây là một vấn đề cần phải suy nghĩ. Có thể lấy một vài ví dụ cụ thể cho dễ hiểu, như trường hợp cả trăm binh đoàn đang tiến vào bộ tư lệnh cộng sản mà thiếu bản đồ và cấp chỉ huy, hoặc, hàng ngàn chiến thuyền chở chiến sĩ tranh đấu đang ào ạt nhắm hướng Hà Nội nhưng lại thiếu la bàn và thuyền trưởng!

Vậy Việt Nam muốn ổn định chính trị thì bất cứ đảng phái nào xuất hiện cũng cần phải có ba điều kiện:
- Chủ trương và đường lối rõ ràng để làm nền tảng cho việc dấn thân đồng thời có thể thu phục được nhân tâm.
- Chỉ đạo và huấn luyện để khỏi sơ hở trước thủ đoạn hỏa mù của địch.
- Lấy tinh thần dân tộc và điểm tựa quần chúng để khỏi lầm đường và lạc lõng trước sức mạnh của tập đoàn cộng sản.

Tại sao tôi đặt nặng vai trò chính đảng trong công cuộc cứu nước và dựng nước? Trước tiên xin thưa rằng, các đảng lớn và có thành tích lâu đời tại Việt Nam thì đều đi theo con đường tiền nhân để tiếp tục việc cứu nước và dựng nước.
Các đảng viên thì hấp thụ đầy đủ kinh nghiệm tranh đấu cũng như tinh thần bất khuất mà ông cha đã anh dũng đứng lên bảo vệ đất nước, chống ngoại xâm từ Trung Hoa, Nhật Bản đến Pháp cũng như đã anh dũng chống nội thù là đảng cộng sản trên nửa thế kỷ. Hơn nữa, chính đảng Việt Nam đều mang một truyền thống đượm màu dân tộc, một tinh thần bất khuất đồng thời là những tổ chức thực tiển có tính cách khoa học mà không một sắc dân nào bắt kịp qua hai điểm trọng yếu sau :
1. Chính đảng Việt Nam là những đoàn thể chính trị lớn có tinh thần quốc gia, có đường lối và chương trình hoạt động minh bạch - ngoại trừ đảng cộng sản - với một hệ thống tổ chức quy mô theo hàng dọc, hàng ngang để chỉ huy và bảo mật.

Các đảng lớn đều do những đảng viên tiên khởi phát xuất từ lòng dân tộc, sáng lập đảng đã trên nửa thế kỷ với một chủ thuyết căn bản phát xuất từ tinh thần quốc gia, có tính cách khoa học, thực tiển và trong sáng nhằm đáp ứng nhu cầu cũng như nguyện vọng của người để thích nghi với hoàn cảnh đất nước ở thời điểm đã qua, với hiện tại và ngay cả trong tương lai.

2. Việc gia nhập vào một đảng chính trị có danh tiếng lớn của Việt Nam không đơn giản như ghi danh vào các đảng phái tại các xứ Âu-Mỹ cũng như một số tổ chức tại hải ngoại và nội địa vừa thành hình trong thời gian qua.
Người muốn được kết nạp để trở thành một cán bộ nòng cốt của một đảng lớn của Việt Nam, trước tiên phải được giới thiệu và trải qua một thời gian dài thử thách mới có thể trở một thành đảng viên chính thức.
Người tân đảng viên sau đó phải được huấn luyện về mọi mặt, từ chính trị đến văn hóa cũng như thể chất và tinh thần.
Đây là điều kiện căn bản để đào tạo tân đảng viên trở thành một cán bộ với đầy đủ nghị lực, kiến thức và khả năng trước khi dấn thân vào môi trường hoạt động. Do đó, một khi trở thành cán bộ, người đảng viên có đủ hành trang để tự mình hoạt động đắc lực và hiệu nghiệm qua nhiều vai trò do đảng chỉ định trong một môi trường nào đó…
Như vậy, giá trị bản thân của người đảng viên cho phép họ thành công trong việc thu phục, hướng dẫn và vận động quần chúng.
B. Vai trò chính đảng (đảng chính trị : hay La Partie Politique )  trước hiện tình đất nước :
Trở về với hiện tình đất nước, chính đảng được sinh ra và lớn lên từ trong lòng dân tộc thì phải nhận trách nhiệm đối với đồng bào cũng như quê hương và tổ quốc. Tại quốc nội đã có nhiều tổ chức tranh đấu đòi tự do dân chủ nhân quyền, đòi tự do tôn giáo, đòi tài sản đất đai, đòi no cơm ấm áo, đòi thoát khỏi cảnh nô lệ Tàu cộng…nhưng các tổ chức nầy còn hoạt động riêng rẽ, thiếu phối hợp và nhất là thiếu cán bộ lãnh đạo can trường, đủ đạo đức và khả năng.
Vậy các đảng lớn, qua thành tích đã có cộng với thành phần cán bộ nòng cốt đang âm thầm hoạt động trên địa bàn miền Nam Việt Nam…thì nên tích cực dấn thân hơn nữa để hành xử vai trò và trách nhiệm của mình.
Các chính đảng cần hợp lực với các tổ chức dân chủ, dân oan, các tín đồ tôn giáo, sinh viên, công nhân và ngay cả những người đang phục vụ trong ngụy quyền Hà Nội để cùng kề vai sát cánh, chung sức nhau để sớm kết thúc chế độ cộng sản.
Chính đảng cũng còn trách nhiệm phối hợp với các cộng đồng người Quốc Gia hải ngoại trong chương trình hợp tác đoàn kết, cùng ngồi chung với nhau thành một khối để yểm trợ quốc nội và thảo những kế hoạch nhằm giải thể chế độ, ổn định xã hội và chính trị ngay sau ngày cộng sản sụp đổ cũng như những chương trình dài hạn nhằm kiến thiết lại đất nước.
Như vậy việc giải thể chế độ cộng sản và xây đựng lại quê hương không thể thiếu bàn tay của các chính đảng của Việt Nam.

Thưa quý vị, ngày nay chủ nghĩa cộng sản đã thoái hóa vì tính cách phi nhân bản, bịp bợm và lừa đảo. Chế độ vô sản biến con người thành loài thú chỉ biết hưởng thụ và làm nô lệ phục vụ cho độc đảng của chúng mà nhân loại đã đồng loạt ghê tởm và vứt vào sọt rác. Chủ nghĩa tư bản thì cũng đi vào thời kỳ quá độ, đưa con người đến một hình thức nô lệ mới.
Những quốc gia đại tư bản nhân danh tự do nhân quyền để dùng sức mạnh vật chất khống chế và điều khiển các quốc gia yếu kém hơn. Điều nầy cũng sẽ dẫn đến những cuộc nổi dậy của thành phần bất mãn, tạo chiến tranh gây bất ổn cho nền hòa bình thế giới. Vậy chỉ còn một chủ nghĩa duy nhất, khả dĩ có thể đưa các dân tộc nghèo yếu, bị trị, mất tự do nhân quyền đi đến độc lập, hòa bình và thịnh vượng…thì may ra nhân loại có thể sống chung với nhau: Đó là chủ nghĩa Dân Tộc.
Đối với Việt Nam, một đất nước bị cả ngàn năm đô hộ của Tàu, trăm năm bởi Tây, ba mươi năm ảnh hưởng của Mỹ và trên 60 năm dưới chế độ cộng sản, dân chúng lầm than, gia tài của Mẹ rách nát tang thương…nhưng tinh thần dân tộc của người Việt Nam bao giờ vẫn còn đó. Vậy phải phát triển tinh thần Dân Tộc sẵn có để chúng ta tìm một hướng đi cho sự Sinh Tồn của Việt Nam ./.
Back to top
« Last Edit: 25. Nov 2017 , 01:03 by LAM_SON »  
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #4 - 24. Nov 2017 , 13:45
 
THẾ LỰC VÀ THỜI CƠ .
Lam Sơn họ Lê

Thời gian lưu vong suốt hơn ba mươi mấy năm dài , Trong chúng ta những người đã ra đi , đã rời bỏ quê nhà  , và mồ mả ông cha để  tìm cách lánh nạn cộng sản, Và có người ra đi để tìm đường cứu nước . Tâm sự của nhiều người là do mẫu số chung : đó là ra đi tìm đường lánh nạn cộng sản VN . Phương thức cứu nước ra làm sao  cách nào ?

Hầu như đất nước VN không còn nhân tài hay sao ?? khi miền nam thất thủ , và miền Bắc cộng sản chế ngự đè nén nhân tài Nam Việt Nam qua các chuyện học tập cải tạo , đánh tư sản mại bản , v… v .. suốt ba mươi mấy năm , ban đầu chỉ có miền nam , quân dân miền nam , chịu tai ách do đảng cộng sản mang lại , nhưng dần dần sau ngày thống nhất đất nước , cả miền trung và miền bắc, nhân dân ba miền hầu như đều rên  xiết dưới ách cai trị tàn bào của thiểu số đảng viên cộng sản .

Tại sao dân tộc Việt nam nổi tiếng anh hùng mà nay lại hèn kém , hay sao ?? Xin thưa , Dân tộc Việt Nam không hèn kém , vì đó là tai trời ách nước , nên toàn dân phải hứng chịu tai ươn, Trở lại điều mà người viết muốn nói , thứ nhất là Tri Bỉ Tri Kỷ ,nghĩa là biết người biết ta , trăm trận trăm thắng , nhưng biết là biết như thế nào ??
Có mấy ai trong quý vị biết rõ ràng và ý nghĩa đích thực của câu nói nầy hay chăng , hay là chỉ biết , mà sự biết không rõ ràng , biết chung chung , lập đi lập lại câu nói nầy ?  Trong quý vị , nếu có ai biết được , thì vui lòng công bố lên diễn đàn , và kẻ hèn ngu nầy , xin sẵn lòng đi theo hầu hạ . để học hỏi được dăm điều hay , lẽ phải của bậc thánh trí .

Thiển ý cuả người viết , khi giải nghĩa câu Tri kỷ Tri Bỉ , chúng ta chỉ hiểu chung chung thôi , tạm dịch nghĩa : Tri Kỹ là biết mình , Tri Bỉ là biết người . Thế nhưng như  thế nào là biết về chính bản thân mình ??? biết về trình độ, và biết về khả năng ; những gì ta có thể làm được , và những gì ta còn thiếu sót , chưa làm được biết về bản thân mình còn có nghĩa là biết được 4 yếu Tố . Mệnh , Số , Thời , Vận .

Chúng ta biết gì về điều nầy , Hay là từ khi người Hán xâm chiếm lãnh thổ Bách Việt , họ đồng hóa chúng ta bằng văn hóa , rồi lâu dần , họ dạy dân ta bằng những câu : Tiên học lễ hậu học văn , nên ý chí đề kháng biến mất , từ khi chúng ta cứ nghĩ rằng điều gì ông bà để lại ắt sẽ không sai , có chắc mà ông bà hoàn toàn đúng 100 % .

Tại sao chúng ta không thử hoài nghi về một vài vấn đề . Tiên học lễ ; nghe qua thì hấp dẫn , nhung kỳ thực không đúng , tại sao trước hết phải vâng dạ .. quan quân quỳ mọp trước vị  Hôn quân , dân chúng VN ngày hôm nay vâng theo lệnh đảng cộng sản mà không dám đặt câu hỏi ????? Tại sao người ta sợ đảng cộng sản như sợ cọp ; Xin thưa vì Đảng cộng sản tàn ác nhất thế gian , nên ai cũng phải sợ .
Trở lại 4 chữ Tri Kỷ Tri Bỉ , khi sinh ra đời ai cũng có mệnh , theo lý thuyết dịch , khi con người sinh ra sẽ chịu ảnh hưởng cuả mệnh mình phải mang , lý thuyết Kinh Dịch phân chia ra làm 5 loại mệnh Kim , Mộc , Thủy , Hỏa ,  Thổ . Mỗi một mệnh lại mang một con số , con số ấy chính là biểu số cuả nhóm sao Thái Ất .

Mệnh thì có 5 loại khác nhau . và số thì có 9 , Ví dụ khi sinh ra đời , năm sinh là 1943 , theo âm lịch , 1943 nhằm năm quý mùi . Năm Quý Mùi nằm trong tuần giáp tuất . Từ Năm Giáp tuất 1934, đến năm quý mùi là năm 1943 , xem như thế là xem nguồn gốc xuất phát ; từ địa phương nào ?? Đây là một( trong những phương pháp bí mật và bí truyền .
Theo lý dịch , khi xem việc nhỏ ta căn cứ nơi địa chi , nhưng khi xem cho việc đại sự , người ta xem ở thiên can Theo cách phân chia thời gian , năm quý mùi nằm tuần giáp tuất , khi mới sinh ra xuất phát từ tuần giáp tuất , thời Chính Nguyên 11 , tuần giáp tuất ở kỳ trung nguyên  từ 1924 , ( nguyên tắc Tam Nguyên ,Cửu Vận , ) Giáp Tý khởi tại cùng Tốn 4 , kế đó giáp tuất  khởi chấn 3 , khi giáp tuất khởi chấn 3 , thì ất hợi 2 , Bính Tý 1 , Đình Sửu 9 , mậu dần 8 Kỷ mão 7 , Canh Thìn 6 , Tân tỵ 5 ,  ,Nhâm ngọ 4 quý mùi 3 , như vậy người tuổi quý mùì mang mệnh chấn 3 tức quẻ chấn , sao lộc tồn . Khi làm nhà ở , khi lo việc quốc gia đại sự , đều phải theo phương pháp nầy để biết mệnh , và khi vào đời , cần nên  biết đó là năm nào , và mệnh mình đang ở đâu trên  bảng Lạc Thư Cửu Cung . để đối chiếu với thời và vận , để mà biết nên làm hay chưa nên  hành động .
Dịch đã dạy rằng , cơ hội không được để qua , thời gian không để mất , cho nên Dịch Chú Trọng vào yếu tố Tời gian quan hệ bậc nhất . Ví dụ như năm Tân Mão , Thái tuế 7 Sao Phá Quân nhập cung thì Số 3 Sao Lộc Tồn Nhập cung Khảm . như thế Lộc Tồn thuộc Mộc , nhập cung khảm thủy , được lợi thế . Nhưng năm Mão , mộc vượng , gặp thái tuế lưu niên hành kim , vì thế cũng phải gặp đắc lợi vào 6 tháng đầu năm , nếu bỏ qua cơ hội , tất nhiên sẻ gặp bất lợi vào  6 tháng cuối năm .

Do đó nếu biết , tận dụng thời gian thuận lợi để hành động . Thời kỳ vừa qua , sau khi thế kỹ thứ 20 chấm dứt , mở ra một kỷ nguyên mới đó là thế giới văn minh toàn diện , các thể chế độc tài dần dần bị đào thải , thường thường những nhà độc tài ; ít khi chịu nhường bước , trong lãnh vực tranh dành quyền thế . bởi vậy , nhân dân các xứ bị cai trị bởi chế độ độc tài vùng lên , lật đổ chế độ độc tài đi .
Đó là sự việc đáng tiếc . Đáng tiếc vì xương máu đã phải đổ xuống , Nhưng Dân chúng không thể nào làm khác đi được , họ không còn sự chọn lựa nào khác hơn , là sử dụng bạo lực để lật đổ thể chế độc tài .

Đời xưa ở Á châu , thường thường những bậc minh quân họ tinh thông Kinh Dịch , nên họ biết không thể nào mãi mãi tồn tại một chế độ độc tài . vì thế đời thượng cỗ , đã xảy ra những sự nhường ngôi vị , và cắt cử người có đầy đủ tài năng đức độ , thay thế mình để quản trị và điều hành đất nước với mục đích đem lại hạnh phúc cho muôn dân 

Kinh Dịch đã khẳng định rằng , trong vũ trụ , luôn luôn biến chuyển , và sự biến thiên đó là quy luật tự nhiên , không thể thay thế được . Đời sau nầy , loài người thường sanh tâm , tham lam , chỉ muốn quyền lực mãi mãi thuộc vể họ và gia đình họ , nhưng điều đó không thể cưỡng cầu được .

Trở lại tình thế đất nước Việt Nam , chúng ta đã thấy tình thế chính trị càng ngày càng gay gắt ,càng ngày càng có nhiều người tỏ ra bất tín nhiệm nơi sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt nam . Càng ngày càng có nhiều vụ kiện thưa khiếu nại về quyền lợi , về đất đai , Các cấp chính quyền càng tỏ ra lộng hành và bất chấp việc thi hành pháp luật . Tuy họ là đại diện pháp luật , chứng tỏ rằng trước sau gì thì cũng sẽ xảy ra biến động , hiện tại đảng cộng sản tiếp tục dùng bạo lực để đàn áp khi có xảy ra các vụ tranh chấp giữa dân với nhà nước .
Nhà nước cộng sản Việt nam đang ở trong tư thế lúng túng , và rối bời , vì đảng cộng sản không còn người có đủ tài năng đức độ để giải quyết những sự bất đồng  mâu thuẩn gay gắt , giữa chính quyền và dân chúng . Đảng cộng sản đứng trước thế thù trong giặc ngoài , thù trong ấy là giữa người quốc gia năm xưa còn sót lại , đó là thành phần quốc gia không hay chưa có cơ hội đi định cư ở ngoại quốc , lòng căm thù vẫn chưa nguôi ngoai .
kế đến là những công thần của chế độ , nay vì tranh chấp quyền lợi , bị thất sủng , đã và đang manh nha âm mưu lập lực lượng để lật đổ đảng cộng sản qua những vụ đảo chính xảy ra , nhưng bất thành .
Tuy Bang giao với Kẻ thù cũ là đế quốcMỹ , tuy bên ngoài có vẻ khắn khít với Mỹ , nhưng bên trong cộng sản , vẩn giữ khoảng cách (để tự vệ ) mặt khác , họ vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng ở thực dân Pháp , tuy trở lại VN , ( nhưng với thái độ như ông chủ cũ )
Thêm vào cái họa phương bắc đó là đám Tàu Phù , bài học ngàn năm thôn tính và đồng hoá vn thành quận huyện của họ , còn sờ sờ ra đó .
Cộng sản VN tứ bề thọ khổn . Người viết không hề chủ quan khi viết như thế , vì hiện tại tình thế chính trị dần dần ngã ngũ , khi mà sự tương tranh ngấm ngầm giữa hai màu cờ vàng ba sọc đỏ , biểu tượng của dân chủ tự do , và màu cờ đỏ ngôi sao vàng tượng trưng cho độc tài khát máu . Lòng Dân VN hiện tại hướng dần về màu cờ tự do dân chủ .

Họ đã nhìn thấy , và họ đã sáng mắt ra . nên  vô tình người quốc gia chưa khai hỏa mà đã dần dần được lòng dân hướng về . Nói tóm lại đây là sự tương tranh gìữa hai màu cờ Vàng và Đỏ . Ngày 30/04/1975  màu cờ vàng đã thất cơ lỡ vận , và màu cờ đò thắng thế nhập trung cung quyền lực . Đó là thời kỳ tan lạc nát đàn , Thời kỳ đó đã qua .

Dịch viết ; hể có tán thì phải có hội tụ , đó là quy luật tất yếu . Thế hội tụ tự nhiên , thế thì tại sao ta không chuẩn bị trước cho kịp thời cơ . làm được điều nầy , chúng ta đã làm đúng theo câu danh ngôn : Thuận Thiên giã Tồn , Nghịch Thiên Giã Vong . Thời vận đã xoay chiều ngay từ năm Giáp Thân 2004 ; thời vận đó chỉ có 20 năm . Nhất định anh hùng hào kiệt sẽ tìm về , Và nhất định người quốc gia sẽ trở nên đắc dụng .

Trong tình thế  , nhất là giai đoạn chuyển biến có lợi cho những người Quốc Gia thực sự , ( những người Quốc Gia không thuộc phe phái  ) Khi dòng lịch sử chuyển động và xoay chiều ( như gió thổi , đột nhiên chiều gíó đổi hướng ) Người Quốc Gia nên suy nghĩ  và cần nên làm điều gì , để ngỏ hầu đáp ứng cho kịp và hợp với vận hội mới của lịch sử , Nếu chúng ta không biết tận dụng thời cơ , để nắm bắt cơ hội lịch sử , thì chúng ta sẽ trở nên lỗi thời , và mục nát , chẳng những thế , chúng ta còn đắc tội với dân tộc ,

Thời kỳ thuận lợi đang diễn ra nhiều biến chuyển , chẳng lẽ chúng ta còn mơ ngủ , vẫn còn tơ tưởng đến hào quang chói lọi của những năm tháng xa xưa . Khi chúng ta tự hào là một đất nước có hơn 4000 năm lịch sử , Liệu chúng ta sẽ phải làm gì với thanh danh vang lừng , của năm tháng nào đánh thắng được quân Mông Cổ .Trong tình hình hiện tại , đất nước Việt Nam không còn đơn độc khi phải đối phó với đảng cộng sản Trung Hoa .
Đây là vấn đề quá sức đơn giản , với sức mạnh của hơn 84 triệu dân , với sự tương quan giữa Việt Nam và quốc tế , với sự trung gian chặt chẽ của thành phần người Việt Định cư , đã và đang làm việc , đang giữ những vị trí cao trong chính phủ các quốc gia Tư Bản .

Chúng ta cần phải nên  làm gì ???  Khi chúng ta có chính nghĩa , có tấm lòng , và thừa thông minh , chúng ta không lo gì chuyện chúng ta đơn độc chống lại Trung Hoa .Làm cách nào để kết lại những miếng vải rời để thành một giải Giang Sơn gấm vóc . Mỗi một người trong chúng ta hãy thử nghĩ ra phương cách , hơn là ngồi đó , chờ đợi ai đó vẽ ra lý thuyết , chờ đợi ai đó làm ra chương trình , rồi chúng ta sẽ thực hiện chương trình do người khác bày ra , cứ như thế , muôn đời chúng ta chỉ là loại nô lệ cao cấp không hơn không kém . Không được phép để thời gian trôi qua , cũng như đừng có đánh mất cơ hội ngàn năm một thuở . Cơ hội mà toàn dân VIệt Nam viết lại trang sử mới.

THẾ LỰC VÀ THỜI CƠ .

Xác định ý nghĩa :
A /  Thế Lực
B /  Thời Cơ
Khi nói đến những từ ngữ trên , hầu như phần đông quý vị đều có thể hiểu được . Nhưng người viết có thể nói rằng , điều mà quý vị hiểu chỉ có tính cách chung chung . Vì sự  hiểu biết chỉ ở phạm vi tổng quát mà thôi , Còn những từ ngữ trên thuộc về lãnh vực chuyên môn thuộc về học thuật . Nói đến thế lực , ta tưởng đó là một , như Thời cơ , cũng thế . Thế và lực là hai yếu tố khác nhau . cũng như Thời và cơ , là thời gian và cơ hội gom lại .

Sở dĩ người viết khẳng định rằng các từ ngữ trên thuộc về thuật ngữ
( từ ngữ kỹ thuật ) là có lý do , Sau thời gian dài nghiên cứu môn nguyên lý học , người viết mới ý thức và hiểu được nhiều điều . Những thuật ngữ nầy xuất phát từ những thiên Binh thư . Sở dĩ người viết không có ý muốn đưa bài viết loại nầy lên các diễn đàn , là vì đây là loạt bài có ẩn chứa tư tưởng chính trị , Dành cho "Cấp Lãnh Đạo Chỉ huy " Và đặc biệt loạt bài nầy sẽ chỉ dành cho anh chị em người Việt ( Những thành Phần Lãnh Đạo Phong Trào tranh đấu chống bạo quyền cộng sản VN ) Người viết nghĩ rằng các đoàn thể người Việt Quốc Gia chính là Mặt Trận Quốc Dân Đảng năm xưa . ( ra đời từ năm 1946 ) Vừa chống thực dân Pháp , vừa chống lại mặt trận Việt Minh .

Những gì được viết , được trình bày , được thể hiện trên những dòng những chữ , cũng chính là tâm tình của chính tác giả . Đây là sự đóng góp chút công sức vào sự nghiệp chung . Trở lại phần đầu , Sau thời gian dài tham gia sinh hoạt , hoạt động trong công tác đấu tranh chính trị , sau những xáo trộn ( do những sự kiện " đáng lẽ ra đã không xảy ra , nhưng bà con cố tình thổi phồng " người viết không cố ý bài bác hay đả kích , chỉ trích , không hề có ý buộc tội hay biện hộ ,cho bất cứ cá nhân nào .
Những sự kiện không đáng để cho xảy ra , vẫn xảy ra , thời gian trôi qua . Điều mà người viết muốn nói , phàm ở đời chuyện gì phải xảy đến thì nó phải đến . Điều nầy , khi nhìn lại  tình thế hổn mang , mà đất nước VN đang nhận chịu , người viết gọi điều nầy là Cơ Trời Và Mệnh Nước . Khi đã hiểu về Cơ Trời Mệnh Nước , tất nhiên ta không thể bàn luận lung tung theo ý riêng mà được .

Thử nhìn một chút về tập thể đông đảo người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới , gần khoảng 3 triệu , chúng ta mới chỉ có số lượng ( la quantité ) , còn phẩm cách ( la qualité ) hoàn toàn chưa có , Sau vài thắng lợi nhất thời , anh em đã vội nghĩ và cho rằng ta đã là vô địch , và phe ta có thể đương đầu với đảng cộng sản gian manh quỷ quyệt . Quý vị chỉ suy nghĩ những điều quá sức đơn giản , và sự suy tư nầy có tính cách thiển bạc ở lớp ngoài mà thôi .
Bởi lẽ hàng ngũ người Việt Quốc Gia nói riêng , và tập thể đồng hương đồng bào nơi quốc nội lại thiếu thành phần " chiến lược gia " tỷ như ta chỉ có tay chân , nhưng còn thiếu cái đầu . Đây là mối trăn trở của những ai ưu tư về vấn nạn của đất nước và dân tộc . Qua suy tư , khi tư tưởng đã thành hình , những dòng tư tưởng thể hiện trên trang giấy . Vấn đề đặt ra , làm sao cho tập thể người Việt Quốc Gia hợp nhất , khi đã hợp nhất " ta mới thực hiện được câu : Đoàn Kết Gây Sức Mạnh "

Trong quý vị thường suy nghĩ đến Quốc Gia Đại Sự , còn Quốc Gia Tiểu Sự" thì hầu như quý vị đều cho rằng đó là chuyện nhỏ , không đáng quan tâm . Vậy thì người viết xin cống hiến cho những ai còn ưu tư về thực trạng của đất nước , của dân tộc , một chút ý mọn . Quý vị hãy nên bắt đầu bằng những sự kiện nhỏ nhất  , Hãy bắt đầu bằng ý tưởng nhỏ , và đơn giản . Quý vị hãy tập hợp lại cùng với quý vị , một vài anh em , chiến hữu , nghĩa hữu .
Đây chính là sự mở đầu , đây là khái niệm thành lập lực lượng quân sự , những đơn vị được thành lập từ cấp thấp nhất " đó là bán đội " Quý vị hãy đấu tranh thực sự không đấu tranh nửa vời , Đấu tranh chính là chiến tranh . Khi ta nói chúng ta đấu tranh , tức là ta đã xác định , đã khẩng định , tuyên chiến với đối phương .
Thôi đừng có mơ hồ trong tư tưởng nữa , cũng đừng có mơ tưởng đến ngày cách mạng thành công mà không hề hao tốn mồ hôi máu xương  và nước mắt . Khi tư tưởng còn mơ hồ , thì làm sao ta xác định được phương hướng mà ta phải đi . Bởi lẽ tư tuởng chính trị là yếu tố quyết định .

Trỡ lại chuyện thế lực , Binh thư nói : cần phải hội đủ ba yếu tố chính , đó là Thiên Thời , Địa Lợi , Nhân Hoà , Muốn làm được việc , ta bắt đầu từ không thành có , ban đầu chỉ có mình ta , đừng có sợ khi ta chỉ có một mình , tại sao lại không sợ , là vì Dịch dạy : " Đồng Thanh Tương Ứng , Đồng khí Tương Cầu " bởi lẽ , khi ta đã hướng sự suy nghĩ đến bất cứ vấn đề nào đó , ( ta không hề ý thức được dòng tư tưởng chính là dòng nhân điện ) thì đồng thời cũng có ai đó ở đâu đó củng nghĩ giống như ta , ngạn ngữ Tây phương bảo điều nầy chính là : những tư tưởng lớn gặp nhau .. Và đừng có bao giờ sợ hãi trước nổi đơn độc một mình .
Không có sự thành công nào là thứ cho không biếu không . Đôi khi cuộc cách mạng dân tộc thành công , chế độ độc tài bị sụp đổ , nhưng trong anh em chiến hữu , củng phải có bao nhiêu người ngã xuống . Đó là cái giá trị của sự thành công .

Một lần nữa , người viết  xin nhắc lại vấn đề Thế và Lực của các đoàn thể người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản ở ngoại quốc . có vị thế đặc biệt . Thiết tưởng không cần nhắc lại điều nầy . Nhưng đó là yếu tố Thế , hay vị thế , người viết xin nói rõ hơn , về từ ngữ "vị thế " . Vị thê" tức là vị trí mà cái thế của người Việt Quốc gia tựa vào , " chữ vị thế " xuất phát từ Khoa Kỳ Môn Độn Giáp là một khoa ứng dụng từ lý thuyết kinh dịch .
Do hoàn cảnh đặc biệt dần dần theo năm tháng , những thành phần người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn cộng sản ở ngoại quốc tự hội tụ một cách tự nhiên . Tùy theo khả năng và phương tiện , các cộng đồng mọc lên , theo người viết đây chính là biểu tượng các làng xã VN thành hình và hiện diện khắp nơi .

Nhưng chúng ta chỉ mới tạo được vị thế , mà chưa tiến xa hơn được , trong sự việc tạo thành lựclượng đứng lên đối kháng với bạo quyền cộng sản trong nước VN . Tức là chúng ta mới chỉ có lượng mà chưa thực sự có lực . Chỉ vì ta mới hội tụ về số lượng , mà chưa thực sự tạo được lực " sức mạnh " để gây ra sức thúc đẩy  phong trào kháng cộng tại quốc nội . Tuy hội tụ về số đông , nhưng hầu như vẫn còn rời rạc , trong suy tư , trong hoạt động , đôi khi thành ra cái cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược . Điều nầy cho thấy đúng theo Cơ Trời và Mệnh Nước . sự việc nó mới như thế .

  Qua vài sự kiện như vụ Trần Trường và lập được Kỳ Đài , để thượng lá Quốc Kỳ nền Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay phất phới nơi miền Tây nước Mỹ . Lá cờ mà ngày tháng năm nào tưởng như đã bị chôn vùi theo mệnh nước , Vậy mà giờ đây , lại hiển hiện như một sự nhiệm mầu , khó tin mà lại có thật . Bài viết nầy không phái viết để xưng tụng , đễ nịnh bợ , điều nầy chỉ muốn đề cập đến hiện tượng , Dịch đã khẳng định , hể có sinh ra thì sẽ có lúc mất đi , có ra đi thì phải có lúc ta trở về . Đó chính là kinh dịch , gọi là chân lý bất biến .

Chỉ mới một thoáng , vậy mà đã ba mươi sáu năm trôi qua , có người đã nằm lại vĩnh viễn nơi xứ lạ quê người như Trần Bình Tịnh , Nguyễn Duy Tài , Nguyễn Phúc Tững , và nhiều chiến hữu khác . Chúng ta và đồng hương đồng bào , tại ngoại quốc , củng như nơi quê nhà , đã chịu nhiều nổi oan ương , mất mát . ba mươi sáu năm quả là quãng thời gian dài  nửa đời người .
Nhưng theo dịch , ba mươi sáu năm chỉ mới là ba tuần giáp , mỗi tuần giáp có 10 Can Giáp có 10 can giáp , và 12 địa chi ; đem nhân X cho 3 = 36 năm . Sự chuyển dịch ( theo bài viết :  " Xem Binh Thư Bàn Việc nước " ) trong cục diện nam Việt nam vào thời điểm nguy nan , khi đối phương đánh trận cuối cùng khởi chiến tại ban Mê Thuộc , Kon Tum Pleiku , vào tháng ba 1975 ,

Tháng tư 1975 lá cờ nền vàng ba sọc đỏ , biểu tượng cho nền tự do dân chủ , thoái vị , từ thủ phủ Sài Gòn lùi về cung tốn " Phú Quốc " Từ Tốn " đông nam " đi giáp vòng qua tây bằc cung càn , ( thuộc châu Mỹ ) hiển nhiên cho thấy lý thuyết dịch không sai . Năm xưa 1975 lá cờ vàng thoái vị , thì thời điểm nầy lá cờ đỏ màu máu , với ngôi sao vàng , cũng sẽ phải thoái vị , khi thời cực thịnh đã qua .
Vị thế của đảng cộng sản , buông quyền lực cũng chết , mà cố giữ quyền lực cũng chết , hoặc là buông bỏ quyền lực để đảng chết mà bảo toàn tính mệnh , hơn là bảo vệ đảng cộng sản thì không toàn được tính mệnh , Như vậy cán bộ cao cấp trong đảng cộng sản , sẽ hy sinh để đảng chết hơn là mình chết .

Người viết xin trở lại với thế và lực . Chúng ta có thế , và bây giờ để dứt điểm ván cờ , hay làm cho cuộc chơi mau hạ màn , Có thế thì phải tạo lực , nhưng vì cơ trời chưa chuyển xoay , vì thế chúng ta có muốn , nhưng dù quyết tâm , nhưng ta không thể nào đảo ngược được thế cờ . Như binh thư đã dạy , ai hội tụ đầy đủ hai yếu tố chính đó là Tri bỉ Tri kỷ , và ba yếu tố phụ : Thiên Thời , Địa Lợi , Nhân Hòa   , tất nhiên người đó sẽ trở thành thiên hạ vô địch .

Huống chi là dòi bọ cộng sản . Bài viết nầy xin được ưu tiên dành cho Tập Thể Người Việt Quốc Gia tại Pháp , còn các quốc gia khác , sẽ có các bài viết khác . Hiện tại vì thiếu đầu óc chiến lược , cho nên chúng ta chưa tập trung ý tưởng ( đó là trên mỗi cá nhân ) và nói chung " chưa tập hợp được " hay nói đúng hơn , là chưa hợp nhất được  tập thể người Việt tỵ nạn trên các lục địa khác . 

Khi quý vị đã thực sự ý thức được công cuộc đấu tranh tức là chiến tranh , thì sự tập hợp lại ngay từ bây giờ , những nhóm nhỏ , ngay chính từ nơi quý vị cư trú làm ăn sinh sống . Vạn sự khởi đầu nan , nhưng không sao dù khó như thế nào ta cũng có thể làm được . Ca dao nói : Một cây làm chẳng nên non , ba cây chụm lại nên hòn núi cao .

Câu nói nầy chính là phương pháp . Tiền nhân chúng ta truyền đạt từ đời nầy qua đời khác chỉ từ lối văn chương bình dân " qua sự truyền khẫu " nhưng nếu hiểu được thì đây chính là những Khẩu Quyết Chân Truyền" . Như trong Nguyên Lý Học " Kinh Dịch " chính là nguyên lý học . nơi phần ứng dụng ,nếu không được chân truyền , thì khi ta gặp phải nơi sách vở , ta cũng không thể hiểu tường tận được .
Qua câu ca dao nói trên , ta thấy , khi họp từ một thành ra ba , tức là Trục Tam Đầu Chế , giả dụ như nói Thân Tý Thìn , là tam hợp địa chi, vì đó là 3 vị trí ,Thân Tý Thìn : là Thủy cục " Từ ngữ Kỹ Thuật " , Thủy cục khởi từ vị trí thân ,cực thịnh nơi Tý " hay hội tụ " tiêu tan tại vị trí thìn . Trên đây là bảng tử vi , gồm có 12 cung hay 12 vị trí .

Người viết không mở rộng vào lãnh vực học thuật , vì muốn cho người xem liên kết được các câu Ca Dao với Nguyên Lý Học  . Thường thường đời xưa truyền khẩu , nhưng không hề có lời giải thích , là vì khi chưa được chân truyền , thì nghe qua chỉ hiểu lõm bõm mà thôi .

Vì thế mới rõ được rằng các thiên binh thư được các nhà soạn ra thuộc dòng danh gia thế phiệt ,  lời di ngôn của tiền nhân không phải là sự đùa chơi . Cái mà người xưa gọi là Thiên Cơ Bất Khả Khinh Xuất Tiết Lộ chính là tính cách nghiêm trọng của sự việc . Cho nên khi học hỏi được , không được nói chuyện bừa bãi . chính những bài sọan ra có liên quan đến kinh dịch và binh thư , được xem như "Bảo Vật Trị Quốc" .

Trong quý vị tuỳ theo phương tiện , hoàn cảnh hay trong khả năng vốn có . Quý vị hãy bắt đầu bằng sự đơn giản dễ làm , dễ thực hiện , đó là phát triển hoạt động trong tình thân . Những bán đội chỉ với 3 người , vỏn vẹn ba người , nhưng nếu biết , ta vẫn có thể biến đơn vị nhỏ thành đại đơn vị . Sau đó theo thời gian và khi có cơ hội thuận tiện chúng ta , những cán bộ lãnh đạo chỉ huy sẽ ráp những mãnh vải rời thành lực lượng , vì hàng ngày ta cùng nhau học tập , qua lại trong sự tương trợ , tương thân tương ái . Thì lúc đó ta đã có lực lượng .

Qua Lễ Thượng Kỳ Quốc Gia vừa trải qua trên năm năm . Thực hiện được , chính là ta đã vừa củng cố phát triển , Một Tập Hợp " vừa không phải là đoàn thể , mà lại là đoàn thể , vừa là lực lượng Dân Sự Chiến Đấu , một tập họp vô danh , không có  danh xưng , củng không biết gọi là gì . Khi viết lên điều nầy , là sự bất đắc dĩ mà thôi . Đó là ý muốn bảo vệ bí mật quân sự , cho một Chiến thuật "   Liên kết Các Bộ Tộc Người Việt Chống Xâm lược của cộng sản VN " không thể giải thích cặn kẽ . Có lẽ do đó mới có sự lượm thuộm về sau nầy .

Rất tiếc , những người kế thừa thiếu kiến thức của  người lãnh đạo chỉ huy , cho nên đã làm hỏng đi , vì mưu cầu riêng tư , hay vì sự lũng đoạn của đối phương , hay vì lý do gì đó , mà đã làm hỏng một phần chiến thuật , Trong một đơn vị quân đội , nếu vì một nguyên do gì đó " vô tình " làm vỡ kế hoạch hành quân , liệu người quân nhân phạm lỗi có phải đã lãnh án tử hình hay không ???  Bởi thế nên người viết đã phải viết bài " Tinh Thần Kỹ Luật " , có phải chăng do tình trạng hổn quan hổn quân mà sinh ra tệ hại ?? Ngẫm lại lời xưa nói Thượng Bất Chính Hạ Tắc Loạn là đúng . Bởi thế nên các thiên binh thư luôn bắt đầu với câu danh ngôn : " Tiên Luận Võ Đức , Hậu Bàn Chiến Thuật " Đời xưa chọn lựa nhân tài sao nghiêm ngặt , mà đời nầy do sự kết bè đảng , cho nên mới có sự lỏng lẻo như thế . Quả là thời loạn ly , nên mới có cảnh bát nháo , tướng lãnh phường tuồng .

THẾ LỰC VÀ THỜI CƠ ( tiếp theo )

Qua bài viết phần đầu , nay bài viết được tiếp tục theo lộ trình nhất định . Phần nầy sẻ đi sâu vào trọng tâm , nghỉa là phần kỹ thuật trong đấu tranh chính trị , nhưng không phải là phương thức theo binh thư cùa Âu Mỹ . Khi áp dụng các phương thức và các mô hình theo kiểu Âu Mỹ , hình như quý vị có nhận ra một điểm hình như có điều gì hơi khiếm khuyết (điều khiếm khuyết đó là gì ??? ) thực ra nói hơi khiếm khuyết là lối nói hơi nhân nhương ( và tế nhị ) chứ thật ra , chúng ta ăn lương Mỹ ( qua tiền viện trợ ) áp dụng binh thư kiểu Mỹ , hoàn toàn là cách chơi của nhà giàu , mà chúng ta không ý thức được ta vốn là con nhà nghèo , nay lại quen cái thói ĩ lại của đám nhà giàu . Cứ thử suy nghỉ rồi tự tìm lấy câu trả lời .

Như đã trình bày bên trên , Chúng ta lại hay có thói quen suy diễn theo kiễu Mỹ và kiễu Pháp , nên từ đó hỏng bét cả chuyện Quốc Gia Đại Sự . Bài viết nầy được viết trên nền móng tư tưởng và văn hóa Phương Đông .

Như đã nói qua , Thế lực là hai điều khác nhau . Trước hết là vị Thế * Vị Trí và Thế đứng . đừng tưởng ta dựa vào nhà giàu hay dựa vào một người có quyền thế , chức vị quan trọng mà ta đã thành công , Nếu quý vị đã có chủ tâm và có thiện chí củng như tinh thần học hỏi để cầu tiến , thì quý vị nên xem thật kỹ từng dòng , từng hàng , từng chử , thì may ra qúy vị mới có thể hiểu thấu đáo tường tận, ý tứ của tác giả .

Đây là bảng kỳ Môn Độn Giáp trong binh thư ngày trước . Khi tương hợp được ba phương vị với nhau : Tây Nam ( thân ) bắc ( Tý ) đông nam ( Thìn ) tức là ta kết hợp được tam thế . Ngoài ra còn Dần Ngọ Tuất , hay Hợi Mảo mùi , Tỵ Dậu Sưủ ; Những sự kết hợp nầy , trong học thuật kinh dịch gọi là Tam hợp cục ( thành Cục ) Đây không phải là một bài viết để  thuyết giảng về học thuật kinh dịch , nhưng người viết muốn đem chút ít kiến thức áp dụng qua binh thư chiến pháp của ngàn xưa , vào trong công cuộc Đấu Tranh Chính Trị của ngày hôm nay . Đây chính là dùng gậy ông đập lưng ông .


Back to top
 
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #5 - 06. Dec 2017 , 02:06
 
Từ Thức
Hier, à 01:29 ·
GANDHI
Qua vụ BOT Cai Lậy , bạn đã thấy trong một chế độ độc tài, bất tuân dân sự là một hình thức tranh đấu hữu hiệu nhất.
Nếu bạn nghĩ bất bạo động là thụ động, khoanh tay không làm gì hết, hãy coi cuốn phim GANDHI của Richard ATTENBOROUGH.
Nếu bạn muốn biết bất tuân dân sự lợi hại tới mức nào, hãy coi Gandhi ( " Một trăm ngàn người Anh không thể kiểm soát 350 triệu người Ấn, nếu người Ấn từ chối không cộng tác " ( Gandhi )
Nếu bạn chưa coi GANDHI , nên coi ngay. Nếu bạn đã coi 12 lần, nên coi lần thứ 13 cuốn phim chiếm 8 giải Oscars, 5 British Academy Film Awards, 5 Golden Globes. Trên Youtube hay DVD
Nếu bạn muốn biết thế nào là diễn xuất, hãy coi Ben Kingsley, Martin Sheen, Candice Bergen vv.. trong Gandhi.
Nếu bạn muốn biết thế nào là scénario, là dàn cảnh, là quay phim, hãy coi Gandhi.
Nếu bạn nghĩ phim lịch sử không lôi cuốn hấp dẫn từ đầu tới cuối, hãy coi Gandhi
Nếu bạn xài đồ Tàu ngày đêm, muốn hiểu boycott hữu hiệu thế nào, hãy coi Gandhi
Bạn trẻ, hãy coi Gandhi, ít nhất 5,6 lần. Để hiểu tại sao một ông già đóng khố nhỏ thó, như Romain Rolland viết, đã làm rung chuyển đế quốc lớn nhất trong lịch sử, nơi mặt trời không bao giờ lặn.
Hãy coi Gandhi. Để hiểu câu nói của Dalai Lama : ‘’ Nếu bạn nghĩ mình quá bé nhỏ, không làm được gì, hãy thử ngủ yên với những con muỗi vo ve bên cạnh ‘’.
Có những tác phẩm làm người ta yêu nghệ thuật hơn, yêu đời hơn, yêu mình hơn, lạc quan hơn. Cảm thấy mình không phải là giun dế để ai cũng xéo lên được. GANDHI by Sir R.ATTENBOROUGH

https://youtu.be/WW3uk95VGes
Back to top
 
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #6 - 07. Dec 2017 , 23:51
 
Đi xa nhìn về: Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mỹ.
Phạm Đình Trọng

1. Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mĩ

Tháng tư lịch mặt trời, vẫn còn tiết xuân. Tán lá cây cơm nguội non xanh mướt dọc phố Quang Trung, Hà Nội làm xao xuyến cả mắt nhìn và rạo rực lòng người đi dưới tán cây. Hàng chò chỉ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cạnh Sở Thú Sài Gòn, thả những bông hoa có hai cánh xoay tít trong gió, bay la đà trên phố. Tôi rời sân bay Tân Sơn Nhất sát ngày ba mươi tháng tư khi cả nước rực màu đỏ của cờ, của khẩu hiệu, của affiche. Một cảnh sắc chính trị nhân tạo, sôi sục, nồng nực, chộn rộn, lấn át, khuấy động cả thiên nhiên thanh bình, êm ả!

Tôi đến nước Mĩ khi những cây anh đào chân đồi tượng Nữ thần Tự do ở cửa biển New York, những cây anh đào lẻ loi ở Philadelphia, hàng anh đào bên bờ sông Potomac giữa thủ đô Washington DC đang khoe sắc rực rỡ, trắng như hoa mơ chùa Hương, trắng như hoa mận Cao Bằng, tím hồng như hoa ban Điện Biên Phủ. Thời tiết ở New York phía Bắc nước Mĩ, thời tiết ở Dalas Fort Worth phía Nam nước Mĩ cũng se lạnh như tiết xuân ở Việt Nam. Lạnh vừa đủ để khoác thêm chiếc áo ấm khi bước ra khỏi nhà. Nhìn hoa anh đào nước Mĩ, tôi cứ bâng khuâng nhớ hoa mận, hoa ban quê nhà. Thiên nhiên ở đâu cũng thật thanh bình, êm ả.

Dù ngồi trong ô tô trên đường cao tốc giữa những làn ô tô nhấp nhô, cuồn cuộn như một dòng sông mải miết ruổi sóng, xe chạy với tốc độ 70 miles giờ (mile bằng 1,6 kilomet, 70 miles là 116 kilomet) suốt năm, sáu giờ tôi không thấy bóng một cảnh sát giao thông. Dù đi bộ trên đường phố New York, một bên là siêu thị, nhà hàng tấp nập người vào ra, một bên là dòng chuyển động bất tận của lớp lớp ô tô nối đuôi nhau, tôi không nghe thấy một tiếng ồn, không một tiếng động cơ ô tô, không một tiếng còi. Cuộc sống cuồn cuộn, hối hả trong tĩnh lặng, tuần tự của một xã hội được tổ chức chặt chẽ và đã có nề nếp.

Thời tiết mùa xuân, sắc hoa mùa xuân và nhịp sống náo nức mùa xuân cho tôi cảm giác bình yên, thanh thản. Nhưng một buổi chiều đến ăn cơm ở nhà hàng Việt Nam trong khu thương mại Eden của người Việt ở thị trấn Fall Church ngoại ô Washington DC, tôi lại gặp không khí chính trị nhân tạo sôi sục ở Việt Nam!

Ngày ba mươi tháng tư, ngày kết thúc cuộc chiến tranh được một phía gọi là chống Mĩ cứu nước nhưng thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam. Ngày ba mươi tháng tư lại đến! Cả nước Việt Nam lại rầm rộ, ồn ào, hoan hỉ mừng chiến thắng thì ở thị trấn tĩnh lặng ngoại ô thủ đô Washington nước Mĩ, những người Việt Nam ở phía chiến bại phải tha hương lại ngậm ngùi làm lễ tưởng niệm những đồng đội cùng chiến hào đã bỏ mạng trong cuộc chiến tương tàn đó! Tôi lại nhớ đến câu của người lãnh đạo nhà nước Việt Nam cộng sản, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Ngày ba mươi tháng tư có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn! Nhưng đâu phải chỉ có những người ở phía chiến bại mới có Nỗi – buồn – ba – mươi – tháng – tư! Mĩ đổ quân vào miền Nam Việt Nam làm cho cuộc chiến tranh có sức giục giã, thôi thúc rất lớn đối với tuổi trẻ miền Bắc. Người con trai duy nhất của Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng Lê Quý Quỳnh tình nguyện nhập ngũ ra ngay mặt trận và anh đã hi sinh ở mặt trận Tây Nguyên. Ngày cả nước tưng bừng mừng chiến thắng ba mươi tháng tư, người mẹ liệt sĩ ấy nhìn pháo hoa sáng rực trời lại nhớ đến nỗi đau mất đứa con trai duy nhất, bà đã ngất xỉu rồi ít ngày sau bà cũng đi theo con trai! Những người từng trải và mẫn cảm đều hiểu rằng ngày ba mươi tháng tư chỉ có niềm vui ở cờ, hoa, ở khẩu hiệu, ở không khí chính trị nhân tạo! Còn nỗi buồn lặn vào từng gia đình, lặn vào từng số phận đã đi qua cuộc chiến tương tàn! Với những người phải tức tưởi bỏ nước ra đi vì sự kiện ba mươi tháng tư đó thì nỗi buồn còn lớn lao, sâu xa đến thế nào! Tôi đã đi từ niềm vui của những lá cờ rợp trên dải đất Việt Nam đến nỗi buồn thăm thẳm lắng sâu ở tận nước Mĩ!

2. Buổi sáng ở Philadelphia

Dặm đường nước Mĩ cho tôi nhận ra rằng, so với nhiều nước trên thế giới, lịch sử hơn hai trăm năm dựng nước của người Mĩ còn quá mỏng và nước Mĩ mênh mông nhưng thiên nhiên khá đơn điệu! Vì thế người Mĩ rất chăm chút giữ gìn, nâng niu lịch sử. Thời gian lịch sử không dày thì người Mĩ gom góp, vun đắp cho không gian lịch sử dày dặn lên. Từng con người lịch sử, từng sự kiện lịch sử đều có chỗ đứng trong không gian, có mặt trong thời gian và làm nên sự thăm thẳm của đời sống tâm linh nước Mĩ. Tạo hóa không sáng tạo cho nước Mĩ mênh mông nhiều cảnh sắc thiên nhiên kì diệu thì người Mĩ thay tạo hóa sáng tạo ra sự kì diệu đó. Bằng tài năng, trí tuệ và niềm tự hào Mĩ, người Mĩ đã sáng tạo nên sự lung linh, hoành tráng của thiên nhiên thứ hai, bổ khuyết cho sự đơn điệu của thiên nhiên thứ nhất do đất trời tạo ra.

Trung tâm chính trị ở thủ đô Washington DC bên dòng sông Potomac trong xanh như một công viên mênh mông mà dòng sông hiền hòa, thảm cỏ và rừng cây là chủ thể. Nhà Quốc hội trên đồi Capiton, nhà Trắng giữa cây xanh và những tòa nhà giầu tính nghệ thuật như tòa nhà bộ Tài chính là những tác phẩm kiến trúc điểm xuyết vào màu xanh thiên nhiên. Trong bát ngát cây xanh đó là đài tưởng niệm Washington, đài tưởng niệm Jefferson, đài tưởng niệm Lincohn, đài tưởng niệm Theodor Roosevelt, đài tưởng niệm Franklin Roosevelt, đài tưởng niệm Martin Lutherking, đài tưởng niệm Lindon B. Johnson... Tất cả những cung điện, đền đài của lịch sử, của chính trị thủ đô nước Mĩ như đều soi bóng xuống dòng sông Potomac trong xanh.

Đi trên cầu Arlington nhìn xuống mặt sông Potomac lấp lánh nắng như một mặt gương, nhìn khối nhà xám năm góc đồ sộ im lìm cạnh sông, tôi cứ ngậm ngùi nhớ đến một lương tri nước Mĩ, anh Norman Morison và tôi lại nhớ đến câu hát mà ca sĩ lừng danh Trần Khánh hát ngày nào: Hoa Thịnh Đốn chiều nay bỗng bùng lên cháy đỏ / Cháy từ thân thể anh Morison... Morison đã đến bên sông Potomac trước cổng tòa nhà Năm góc đốt mình lên thành ngọn đuốc phản đối chính phủ Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam. Phản đối cuộc chiến tranh mang chết chóc, tai họa cho nước Mĩ, ngọn lửa Morison là ngọn lửa của lương tri nước Mĩ, của lịch sử nước Mĩ mà nơi ngọn lửa ấy cháy lên không có một dấu ấn ghi nhận! Hay có mà tôi không biết?

Cánh rừng rộng lớn phía bên trái dòng sông Potomac là khu tưởng niệm ba cuộc chiến tranh thế giới mà nước Mĩ đã tham chiến: Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến tranh Korea. Chiến tranh Việt Nam. Khu tưởng niệm chiến tranh Việt Nam rộng lớn nhất, nội dung phong phú nhất và cũng gợi nhiều suy nghĩ bùi ngùi nhất. Tên tuổi hơn năm mươi tám ngàn lính Mĩ chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc chìm trên tấm bia đá hoa cương đen nguyên khối dài 75 mét, cao hơn hai mét và được in trong tập sách dày đặt trên giá bên lối đi, trước tấm bia. Mặt trước tấm bia đá là tên những người lính xấu số. Mặt sau bia là gò đất dài xanh mướt cỏ mùa xuân như một nấm mồ lớn. Những trang sách ghi tên người lính Mĩ chết trận ở Việt Nam dù được bọc nilông cũng đã nhàu nhĩ, sờn cong vì đã có hàng triệu lượt người lật giở tìm tên người thân. Tên những người lính Mĩ khắc trên bia đá kia, in trong tập sách dày kia còn mãi với thời gian, còn mãi với lịch sử nước Mĩ, còn mãi trong lòng nước Mĩ, còn mãi trong tình yêu của lớp lớp thế hệ con cháu họ. Nhiều người xương cốt còn nằm lại đâu đó trong lòng đất Việt Nam nhưng tên của họ đã trở về khắc vào lòng nước Mĩ.

Tôi có người cậu ruột, em trai thứ ba của mẹ tôi, là bộ đội Vệ Quốc Đoàn đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, cậu Nguyễn Bá Thứ. Bà ngoại tôi đã nhận được tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi nhưng đến những trận bom đánh phá miền Bắc của không quân Mĩ, bà ngoại tôi phải rời thành phố đi sơ tán. Thành phố có ngôi nhà của bà ngoại tôi bị đánh bom. Tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi không còn nữa! Đến nay nắm xương tàn của cậu tôi không biết vùi ở nơi đâu và cũng không có tấm bia nào ghi tên cậu! Cậu Thứ ơi, thôi cháu đành ghi tên cậu trong bài viết về tấm bia liệt sĩ cũa nước Mĩ vậy!

Tên thành phố Philadelphia của nước Mĩ cũng giống như tên vùng đất Lâm Thao, Phú Thọ của Việt Nam vì Philadelphia chính là thủ đô dựng nước của nước Mĩ giống như Lâm Thao là thủ đô dựng nước của Việt Nam. Thủ đô thời dựng nước của Việt Nam nay chỉ còn ngôi đền thờ Vua Hùng quanh năm hương khói, chỉ còn truyền thuyết về chín mươi chín ngọn núi là đàn voi chín mươi chín con chầu về đền Hùng. Chỉ có chín mươi chín con voi thôi vì một con quay đi hướng khác có ý phản nghịch liền bị Vua Hùng chém đầu, nay máu voi còn chảy là dòng suối ở chân núi! Chỉ còn cái tên Thậm Thình của một làng quê bên đền Hùng, nơi có tiếng chày thậm thình giã gạo từ thời Vua Hùng. Tiếng chày giã gạo của Lang Liêu làm bánh chưng, bánh dày dâng lên Vua Hùng. Ở Philadelphia còn cả không gian lịch sử, còn cả không khí lịch sử, hơi thở lịch sử, còn cả viên gạch đỏ, phiến đá xanh mang hơi ấm lịch sử thời dựng lên nước Mĩ.

Không gian lịch sử là tòa nhà chính quyền bang Pennsylvania được xây dựng từ năm 1732, đến năm 1776 sôi động trở thành nhà làm việc của năm thành viên trong hội đồng soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ và ngày 6.7.1776, George Washington, một trong năm thành viên đó đã đứng trên vỉa hè trước tòa nhà hướng ra dân chúng đông đúc trên bãi cỏ rộng bên kia đường đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Mĩ. Ba năm sau, Washington được người dân bầu làm Tổng thống Mĩ đầu tiên. Tòa nhà lịch sử được xây bằng những viên gạch đỏ từ năm 1732 nay vẫn đỏ thắm giữa ngàn xanh cổ thụ và được gọi là dinh Độc lập, Independence hall. Nay Washington vẫn đứng nơi ông đã đi vào lịch sử, không lễ đài chót vót, không khoảng cách với người dân, tượng đồng Washington đứng ngay trên hè đường trước dinh Độc lập. Đoạn đường trước mặt ông vẫn lát những phiến đá xanh cổ mà tuổi những phiến đá đó chắc chắn còn cao hơn tuổi nước Mĩ. Bên kia đường trước mặt ông vẫn là thảm cỏ rộng, nơi những người dân Mĩ đã đứng ngây ngất hít thở không khí tự do thiêng liêng đầu tiên, sung sướng uống từng lời Tuyên ngôn Độc lập rồi vươn vai đứng thẳng người lên làm công dân nước Mĩ độc lập. Hơi thở lịch sử là tiếng ngựa hí, là tiếng vó ngựa lóc cóc trên con đường lát đá phiến kéo cỗ xe bốn bánh cổ kính. Khách du lịch bỏ ra mười dollars sẽ được lên xe đi một vòng trên những đường phố yên tĩnh, vắng vẻ, ngắm nhìn thành phố Philadelphia vừa cổ kính vừa hiện đại. Không khí lịch sử là hàng người nối dài trên con đường xi măng cuối bãi cỏ rồi từng đợt, từng đợt được đón vào tòa nhà Liberty Bell chiêm ngưỡng quả chuông cùng tuổi với Tuyên ngôn Độc lập, cùng tuổi với nước Mĩ đã gióng lên tiếng chuông tự do gọi những chính khách đầu tiên của nước Mĩ đến dinh Độc lập biên soạn ra các văn kiện lịch sử định hình lên nước Mĩ, gọi dân chúng Philadelphia thay mặt cho người dân mười ba bang đầu tiên của nước Mĩ đến dinh Độc lập tham dự vào những sự kiện lịch sử buổi lập nước.

Trong những vật chứng lịch sử Mĩ ở đây: Tượng đồng Washington, Dinh Độc lập, Quả chuông Tự do, Liberty Bell, tôi đánh giá cao nhất những ngọn cỏ bình dị đã xanh từ trong thăm thẳm lịch sử nước Mĩ đến hôm nay và còn xanh mãi đến mai sau. Phải có ý thức dân tộc cao, phải biết trân trọng lịch sử đất nước lắm mới biết nâng niu giữ gìn từng ngọn cỏ lịch sử. Hơn hai trăm năm rầm rộ, hối hả công nghiệp hóa, đô thị hóa mà giữa thành phố Philadelphia vẫn còn lại bãi cỏ từ ngày Độc lập năm 1776! Chỉ mấy ngọn cỏ bình dị kia cũng nói được tầm văn hóa và tấm lòng với nước, với dân của một chính quyền! Tôi lại xót xa nhớ đến những chứng tích hùng hồn của lịch sử và những tài sản vô giá của văn hóa Việt Nam đã bị những quyền lực giai cấp, bị những nghị quyết thiển cận đập phá, xóa bỏ. Phá đàn Nam Giao ở cố đô Huế! Xóa sổ hội trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội! Tượng đá nàng Tô Thị ôm con ngóng chồng ở Lạng Sơn bị cho vào lò nung vôi! Những viên gạch mộc của thế kỉ mười sáu xây nên thành nhà Mạc cổ kính ở Tuyên Quang bị đập bỏ để xây lại bằng vật liệu hào nhoáng của thế kỉ hai mươi!...

Với tầm văn hóa đó của quyền lực, những giá trị lịch sử, văn hóa Việt Nam sẽ còn tiếp tục bị đập phá! Rồi những gì sẽ bị phá bỏ nữa? Tôi rùng mình kinh hoàng! Để xóa đi nỗi buồn, tôi đi dạo trên con đường vắng bao quanh tòa nhà Độc lập. Ngắm những viên đá xanh lát trên đường, ngắm màu gạch đỏ trên tường nhà, nhìn những tia nắng sớm chiếu qua vòm lá như rắc hoa trắng lung linh trên đường, nghe ngọn gió cổ xưa rì rào trên vòm đại thụ, tôi tưởng như đang đi trong buổi bình minh của nước Mĩ.

3. Kỳ quan Mĩ

Lịch sử Mĩ do những trái tim người Mĩ yêu tự do viết lên. Cảnh quan nước Mĩ hôm nay cũng do những người Mĩ tự do đó xây cất lên. Bàn tay tạo hóa không tạo cho nước Mĩ những kì quan thiên nhiên, những kiệt tác của Trời thì bàn tay người Mĩ, trí tuệ người Mĩ đã thay tạo hóa làm nên những kì quan Mĩ, những kiệt tác Mĩ.

Kì quan Mĩ là những tòa nhà tháp nâng con người lên với trăng sao. Đất nước gần mười triệu cây số vuông trải rộng từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, dân số chỉ nhỉnh trên ba trăm triệu người, mật độ dân số chỉ hơn ba mươi người sống trên một cây số vuông. Trong khi con số đó ở Việt Nam là gần ba trăm người, ở Trung Hoa là một trăm năm mươi người. Đất đai bằng phẳng, rộng rãi, dân cư thưa thoáng, vậy mà người Mĩ vẫn sáng tạo ra những tòa nhà chọc trời. Những tòa tháp kính lấp lánh như khối kim cương sừng sững vươn lên trời xanh về ban ngày. Những tòa tháp ánh sáng lung linh trong thăm thẳm vũ trụ về ban đêm. Không phải vì nước Mĩ thiếu đất, những tòa tháp đó mọc lên để tạo ra kì quan Mĩ, mang tầm vóc, tư thế nước Mĩ, mang triết lí làm chủ của tư duy Mĩ!

Kiến trúc Hy Lạp – La Mã cổ đại với những cột tròn cao vút uy nghi. Kiến trúc Pháp có cùng triết lí với kiến trúc cổ điển Việt Nam: Coi trọng thiên nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên tham gia vào kiến trúc, là một phần không thể thiếu của kiến trúc, đường nét kiến trúc uyển chuyển, duyên dáng, tinh tế của tiết tấu cuộc sống thong thả, chậm rãi. Những tòa nhà tháp chế ngư thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên ở các thành phố Mĩ là phong cách kiến trúc của những con người tự do, được giải phóng khỏi mọi ràng buộc, vươn vai đứng thẳng lên làm chủ vận mệnh, làm chủ thời đại, một thời đại của tốc độ cao, của tiết tấu cuộc sống công nghiệp gấp gáp, dồn dập, vì thế đường nét, hình khối kiến trúc cũng đơn giản nhất, thanh thoát, mạch lạc, dứt khoát. Những tòa tháp mang triết lí làm chủ của tư duy Mĩ, mang tâm hồn tự do Mĩ, mang í chí chinh phục Mĩ đã tạo ra không gian Mĩ, cảnh quan Mĩ, nhịp sống Mĩ.

Khi phần lớn những ngôi nhà ở châu Á, châu Phi nông nghiệp còn là tường đất, mái lá, con người vẫn còn phải ẩn trong đất, núp trong cây, châu Âu công nghiệp vẫn còn say sưa với kiến trúc dựa vào sắt thép trần trụi, say sưa dựng lên những tòa tháp ngạo nghễ sắt thép như tháp Eiffel ở Paris, cất năm 1889, những cây cầu trập trùng sắt thép như cầu Long Biên ở Hà Nội mà người Pháp gọi là cầu Doumer cất lên năm 1899 thì nước Mĩ đã đi đầu cất lên những building, những tòa tháp bê tông chất ngất. Tòa thị chính thành phố Milwaukee 30 tầng cao 107 mét xây năm 1895. Tòa nhà Park Row ở New York 30 tầng cao 119 mét xây năm 1899. Tòa tháp Singer ở New York, 47 tầng cao 187 mét xây năm 1908… còn bền vững đến hôm nay. Người từ khắp nơi trên thế giới đến tòa tháp đôi World Trade Center, WTC, Trung tâm Thương mai Thế giới ở New York, 110 tầng, cao 417 mét không phải chỉ để mua sắm những mặt hàng cao cấp nổi tiếng thế giới mà còn để chiêm ngưỡng kì quan Mĩ, ngắm nhìn không gian Mĩ, hít thở không khí Mĩ, cảm nhận nhịp đập cuộc sống Mĩ. Ngày 11.9.2001, Bin Laden đánh sập tòa tháp đôi WTC. Mười năm sau tôi đến New York đi ngang qua công trường xây dựng lại WTC chỉ thấy nghễu nghện những cần cẩu, ngổn ngang những khối máy mà rất ít bóng người và tòa tháp đã lên tầng thứ sáu.

Kì quan Mĩ là hòn đảo Nữ thần Tự do ở cửa biển New York mà người từ mọi miền trái đất tìm đến đây còn đông hơn cả số người đổ về Trung tâm Thương mại Thế giới. Dù tượng Nữ thần Tự do không phải là sáng tạo của người Mĩ. Tượng là tác phẩm của Kiến trúc sư Frederic Bartholdi, người Pháp, là quà tặng của nước Pháp tặng nước Mĩ, quà của những người mang lí tưởng Nhân quyền và Dân quyền tặng những người mang lí tưởng Tự do. Tượng đã trở thành phần hữu cơ của hòn đảo ở cửa biến New York, là phần hưu cơ của núi sông biển trời nước Mĩ. Cả hòn đảo Tự do, tên cũ là đảo Bedloe, là tác phẩm nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa sự sáng tạo của tự nhiên và sự sáng tạo của con người. Để đặt tượng Nữ thần Tự do cao bốn mươi sáu mét, trí tuệ và bàn tay người Mĩ đã biến hòn đảo nhỏ như còn trôi dạt, còn biến đổi hình dạng trước sóng gió biển lớn phía Tây trái đất thành hòn đảo rộng rãi, vững chãi, thành một địa chỉ văn hóa của loài người. Thiên nhiên sáng tạo cho nước Mĩ biển trời lộng lẫy ở cửa biển New York, lại sáng tạo cho nước Mĩ hòn đảo nhỏ trần trụi như tòa nhà mới xây xong phần thô giữa nơi biển trời lộng lẫy đó để người Mĩ tiếp tục sáng tạo, biến ngôi nhà thô thành tòa lâu đài nguy nga. Tượng Nữ thần Tự do giơ cao ngọn đuốc soi sáng thế giới đặt ở nơi biển trời lộng lẫy như cõi thiên thai mà loài người vẫn ước vọng, vẫn khắc khoải hướng tới.

Mười lăm phút một chuyến phà đầy ắp người tách bến New York sang đảo Tự do. Tôi nhìn dòng người đủ màu da, từng cặp, từng tốp chân bước lâng lâng trên hòn đảo Tự do nhưng tôi biết cảm nhận về tự do của mỗi người sẽ rất khác nhau. Những cô gái da trắng, da đen ríu rít đi theo đoàn của một trường trung học Mĩ kia, họ chẳng cần bận tâm về tự do, vì với họ tự do là lẽ đương nhiên, bình thường của xã hội họ đang sống. Thời ông bà họ phải đấu tranh đổ máu giành tự do đã lùi xa mấy trăm năm rồi. Nhưng hai thanh niên người Trung Hoa có vẻ là sinh viên du học đang đứng lặng ngắm nhìn tượng Nữ thần Tự do kia, sao vẻ mặt họ bần thần thế? Có phải nhìn tượng Nữ thần Tự do họ lại nhớ đến sự kiện cách đây chưa lâu: Sinh viên Bắc Kinh biểu tình ở Thiên An Môn đòi tự do dân chủ bị xe tăng quân đội tràn qua, nghiến nát nhiều sinh viên? Tôi nhận ra chim biển ở đây nhiều quá. Chúng bay rợp trên trời. Nhiều con đậu thành hàng dài trên bờ kè đá mép đảo. Tôi đã đứng giữa đàn chim biển ở đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam ở Thái Bình Dương. Ngày ấy tôi đi với đơn vị hải quân đổ bộ lên giữ đảo. Lũ chim biển nhìn những con người lần đầu tiên xuất hiện trên đảo với vẻ bình thản, thân thiện, lính đứng gác, chim xà xuống đậu trên mũ lính. Nhưng khi mỗi con chim biển trở thành hai, ba cân thịt tươi trong bữa ăn kham khổ hàng ngày của lính đảo thì từ đó lũ chim biển hoang sơ nhìn thấy bóng con người đều hốt hoảng, tránh xa! Tượng Nữ thần Tự do khánh thành ngày 28 tháng mười, năm 1886. Từ đó hơn một thế kỉ đã trôi qua, ngày nào trên đảo cũng nườm nượp người như lễ hội mà bây giờ tôi đến sát mấy con chim biển đứng mép kè đá, chúng vẫn bình thản nhìn tôi thân thiện. Ở đây có cả luật pháp của nhà nước và tập quán của người dân bảo vệ những con chim biển hoang sơ, bảo vệ cuộc sống tự do mưu sinh của chúng nên chúng mới có phong thái ung dung, tự tin, bình đẳng với con người đến thế! Nhìn những con chim biển được sống tự do, hòa thuận bên những con người xa lạ, tôi lại chạnh nhớ đến cuộc sống mất tự do của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ trong ngục tù Hà Nội. Bao giờ người dân Việt Nam mới được pháp luật bảo vệ như những con chim biển ở hòn đảo Tự do này nhỉ?

Kì quan Mĩ là hệ thống giao thông chiếm lĩnh cả chiều rộng và chiều cao không gian. Có tới năm, bảy con đường bê tông xi măng song song cạnh nhau cùng một hướng. Mỗi con đường lại có hàng chục làn ô tô cuồn cuộn chảy. Nơi những con đường giao nhau, mặt phẳng nằm ngang chuyển thành mặt phẳng thẳng đứng. Năm, bảy con đường thành năm, bảy tầng cầu vượt. Mỗi con đường như một dải lụa bị gió thổi tung lên, uốn lượn, đan xen vào nhau. Nơi có đường giao nhau kì vĩ nhất thế giới là ở thành phố Houston bang Texas. Mười con đường, mười dải lụa mềm mại uốn lượn lồng vào nhau, uyển chuyển, thướt tha như một màn múa, nhịp nhàng, dìu dặt như một giai điệu âm nhạc.

Các điểm du lịch kì thú nhất ở Việt Nam đều là các kì quan thiên nhiên. Sa Pa. Tam Đảo. Vịnh Hạ Long. Chùa Hương. Tam Cốc. Bích Động. Sầm Sơn. Phong Nha Kẻ Bàng. Non nước Hải Vân. Kênh rạch miền Tây Nam Bộ...

4. Lá cờ Việt Nam trên đất Mĩ

Ngược lại, làm nên sức hấp dẫn của nước Mĩ với thế giới đều là những kì quan do con người tạo ra. Tạo ra bằng trí tuệ Mĩ. Tạo ra bằng tiền thuế của người dân Mĩ nên người dân Mĩ đều có ý thức làm chủ các kì quan đó và mỗi kì quan đều có một chủ thể có trách nhiệm trước dân Mĩ và có tầm văn hóa tương xứng với giá trị văn hóa mà họ là chủ thể nên kì quan trước hết được khai thác ở giá trị văn hóa. Mỗi ngày có cả chục ngàn khách đến đảo Nữ thần Tự do nhưng ở đó không có một mẩu giấy, một bịch ni lông rác thải, không có một hàng chữ lạc lõng của những kẻ văn hóa thấp lại muốn lưu tên tuổi vào thời gian cùng kì quan! Không có một âm thanh của con người phá mất âm thanh dào dạt, mênh mang của thiên nhiên. Ở những kì quan Mĩ chỉ có nườm nượp khách viếng thăm và sự lặng lẽ, tất bật, tận tụy của những người phục vụ khách. Hoàn toàn không có những thành phần ăn theo. Không có người bán hàng rong! Không có người đeo bám, chèo kéo khách mua đồ lưu niệm! Không có một tiếng loa, một bảng hiệu. Không một bóng người ăn xin. Ở Mĩ không phải không có người ăn xin. Một tối muộn, vừa từ nhà hàng trên tòa tháp quay ở Dalas bước ra phố, tôi thấy người đàn bà da đen cao gày như mốt người mẫu một thời, bên sườn chiếc túi du lịch nhưng dáng đi vật vờ đến đứng lại trước con gái tôi. Bà ta hỏi xin tiền con gái tôi. Người ăn xin trong đêm tối, trong âm thầm, trong đơn lẻ, không kéo đàn kéo lũ, không bày biện, phô trương sự khốn cùng, không trơ tráo đeo bám!
Ngành du lịch ở ta ăn sẵn kì quan thiên nhiên. Coi kì quan của đất nước là của chùa, mọi ngành, mọi người xúm vào khai thác kì quan, kinh doanh kì quan, ăn theo kì quan chỉ vì giá trị vật chất của ngành, của cá nhân, không vì giá trị văn hóa của đất nước. Mỗi kì quan đều là một giá trị văn hóa. Không có chủ thể có tầm văn hóa tương xứng để quản lí, bảo vệ, khai thác giá trị văn hóa của kì quan, các kì quan thiên nhiên ở ta đều bị thương mại hóa, dung tục hóa, đều bị xâm hại, tàn phá nghiêm trọng và bị những thẩm mĩ thô thiển tùy tiện can thiệp, xây cất thêm làm cho méo mó, biến dạng, làm mất vẻ đẹp nguyên sơ của kì quan thiên nhiên! Nếu tầm văn hóa là ở bằng cấp, học hàm, học vị thì có lẽ công chức Việt Nam có tầm văn hóa cao nhất thế giới! Nhưng cứ nhìn vào việc quản lí các hoạt động văn hóa và quản lí các công trình văn hóa ở ta thì mới thấy tầm văn hóa ở những nhà quản lí đó thảm hại đến thế nào.

Mansfield là thành phố vệ tinh của Dalas, một trung tâm dân cư đông đúc của bang Texas và của nước Mĩ. Mansfieldcity, thành phố Mansfield, nhưng nhà cửa khá thưa thớt, không khí yên tĩnh như một thị trấn khuất nẻo ở ta. Nhà kiểu biệt thự, nhà nọ cách nhà kia cả chục mét. Mỗi nhà là một thế giới khép kín. Những con đường bê tông xi măng rộng rãi. Vỉa hè sát mép đường là một dải hẹp láng xi măng cho người đi bộ, còn lại là thảm có rộng, rồi đến những ngôi nhà một lầu hoặc chỉ có trệt. Những ngôi nhà cách biệt nhau bằng một thảm cỏ và một bờ cây xanh hoặc bức tường gỗ mỏng mảnh. Diện tích mặt bằng ngôi nhà hơn hai trăm mét vuông chỉ chiếm một phần mười diện tích mảnh đất thuộc ngôi nhà. Ngôi biệt thự xinh xắn giữa thảm cỏ và cây xanh thoáng rộng với hơn hai ngàn mét vuông đất đó giá bán ở Mansfield là gần hai trăm ngàn dollars, tính ra tiền Việt là gần bốn tỉ đồng Việt Nam, rẻ hơn giá nhà đất đô thị ở Việt Nam. So sánh giá đất đô thị ở Mĩ với Việt Nam lại phải nêu vài so sánh khác. Hàng hóa ở Mĩ, hàng công nghiệp như ô tô, laptop, máy ảnh, hàng điện tử... đều rẻ hơn ở Việt Nam. Hàng nông sản thực phẩm thì tương đương hoặc nhỉnh hơn giá ở Việt Nam chút ít. Một gallon sữa tươi, 3,78 lít, giá 4,92 dollars. Túi gạo Thái Lan 25 pound, gần 12 kg, giá từ 15 đến 20 dollars, tùy loại gạo. Một pound bắp cải, 0,45 kg, giá 0,6 dollars...

Giá dịch vụ thì vô cùng cao. Gửi trẻ 30 dollars một ngày. Cắt tóc 30 dollars. Cắt tóc ở tiệm của người Việt rẻ hơn cũng phải 10 dollars. Xén lông cho chó cảnh một con 50 dollars. Một mũi tiêm phòng dịch cho chó 50 dollars... Giá trị lao động cũng rất cao. Công lao động đơn giản thấp nhất là 8 dollars giờ. Như vậy lương tháng của một lao động đơn giản cũng gần hai ngàn dollars. Lương tháng của nhân viên hành chính trên năm ngàn dollars... Nhà cửa đó, giá sinh hoạt đó, đồng lương đó: Đời sống Mĩ đó!

Giá trị lao động cao nên người Mexico vượt biên sang Mĩ bán sức lao động rất đông. Những siêu thị nối tiếp nhau dọc con đường lớn ở trung tâm thành phố Houston. Bên trong siêu thị bày bán hàng hóa được sản xuất từ hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới. Sản phẩm may mặc đến từ Guatemala, Nicaragua, Egypt, Gordan, India, Bangladesh, Philippines, Indonesia, Malaysia, Cambodia, Việt Nam… Sản phẩm lương thực, thực phẩm: Gạo Thái Lan. Cá Việt Nam. Bí đỏ Ấn Độ. Xoài Mexico. Dừa Costa Rica. Táo Chile. Cà phê Brazil. Chuối Guatemala…

Nhiều nhất, tràn ngập trong các siêu thị Mĩ là hàng hóa đến từ Trung Hoa. Từ những sản phẩm công nghệ cao như máy vi tính, máy ảnh, đồ điện tử, đến những sản phẩm tầm tầm: quần áo, giầy dép, vali, túi xách, đồ gốm sứ, đồ gỗ, đồ nhựa, cả đến những món hàng lưu niệm bé xíu cũng là sản phẩm Trung Hoa. Bên ngoài siêu thị là những người đàn ông Mexico lố nhố từng tốp đứng ngồi dưới bóng cây, trên hè đường bày bán mặt hàng cơ bắp, như chợ cơ bắp ở Giảng Võ, Hà Nội.

Những ngày ở Mansfield, buổi sáng tôi đều đi bộ một vòng qua những đường phố vắng vẻ, tĩnh lặng, lộng gió và se lạnh. Một buổi sáng tôi thấy trên thảm cỏ bên đường lác đác có những chiếc cọc mang tấm bìa viết hàng chữ Garage Sale hoặc Yard Sale. Trong garage ô tô, trên mảnh sân cạnh ngôi nhà có cắm tấm bìa đó người ta mang đồ cũ không dùng đến ra bày bán. Quần áo. Giầy dép. Đồ gốm sứ. Đồ điện tử. Bộ đồ câu cá… thượng vàng hạ cám, đủ cả. Có những thứ như chiếc áo lông thú, bộ váy áo, đôi giầy da cao cổ của phụ nữ nếu mua mới lúc đang là mốt thời thượng phải vài trăm đến cả ngàn dollars, bây giờ đã lạc mốt ở đây chỉ ghi giá vài chục dollars. Sáng thứ sáu hàng tuần người ta bán đồ sale trong sân nhà. Còn sáng thứ hai và thứ năm thì hè đường trước nhà nào cũng có một thùng nhựa lớn đựng rác đợi đội thu gom rác đến đổ lên ô tô. Trong những thùng rác đó tôi thấy có cả chiếc quạt máy còn nguyên vẹn, đầy đủ các chi tiết, những bộ quần áo còn khá mới và nhiều đồ dùng trong gia đình còn tốt.

Bà cô tôi sống ở đây có lần ôn lại thuở cơ hàn mới sang Mĩ có nhắc đến chuyện những sáng thứ hai, thứ năm phải đi lượm những đồ người ta bỏ đi ở thùng rác về dùng lại. Chú là thiếu tá quân đội Sài Gòn. Sau năm 1975, trong thời gian chú phải ở trại tập trung, cô phải bán nhà đi lấy tiền nuôi bốn đứa con. Chú ở trại tập trung về, cô sinh thêm đứa con thứ năm. Không nhà cửa! Không việc làm! Năm đứa con nheo nhóc, đứa nào học cũng giỏi nhưng nhìn tấm gương con của những người phải đi trại tập trung đều không được vào đại học, không có được chỗ đứng đàng hoàng trong xã hội thì biết rằng con cái cũng không có ngày mai! Cuộc sống đang bế tắc thì chính sách xã hội của nước Mĩ đón những người Việt Nam có hoàn cảnh như gia đình cô chú sang định cư ở Mĩ đã mở cho cô chú lối thoát.

Cô chú và năm đứa con sang Mĩ với hai bàn tay trắng. Bây giờ năm đứa con của cô chú đều đã tách ra ở riêng. Người ở thành phố Mansfield, người ở thành phố Grand Prairie, đều là thành phố vệ tinh của Dalas. Mỗi người đều có một ngôi nhà xinh xắn giữa thảm cỏ và cây xanh trên mảnh đất còn rộng hơn đất của bố mẹ. Sang Mĩ, hai con đầu đã lớn, không vào trường Mĩ được. Ba đứa con sau vào học trường Mĩ bây giờ là ba bác sĩ đều mở phòng mạch riêng. Có người có đến bốn phòng mạch. Ngôi nhà hơn hai trăm mét vuông, có bốn phòng ngủ bây giờ chỉ còn cô chú. Hai vợ chồng già. Một tòa nhà rộng tĩnh lặng. Một chiếc ô tô du lịch số miles chạy chưa nhiều nên xe còn rất mới. Đó là gia cảnh chung của tất cả những bậc làm cha mẹ ở Mĩ mà con cái đã trưởng thành. Cuộc sống đầy đủ. Không phải bận tâm về con cái. Thời gian thư nhàn rộng dài dành cả cho nỗi khắc khoải hướng về đất nước. Năm nào năm đứa con cũng dồn tiền để cô chú về Việt Nam một chuyến, mang thuốc men và tiền đến các chùa làm từ thiện, phát thuốc và tặng tiền cho người nghèo.

Trong số gần ba triệu người Việt Nam đang sống ở Mĩ có lẽ phải đến cả triệu người đến Mĩ trong hoàn cảnh như cô chú tôi. Dù sự ra đi đó có mở ra một lối thoát tốt đẹp, đưa đến một cuộc sống dễ chịu, mang lại tương lai sáng sủa cho con cháu thì vẫn là sự ra đi bất đắc dĩ! Ở lại với đất nước không có đường sống, không được nhìn nhận, không được đối xử bình đẳng thì đành phải ra đi!

Đô đốc Trần Văn Chơn của hải quân quân đội Việt Nam Cộng hòa về hưu chưa được một năm thì sự kiện ba mươi tháng tư năm 1975 xảy ra. Vào những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, Đô đốc Elmo Zum Walt Jr, tư lệnh hải quân Mĩ tại Việt Nam điều một chuyến máy bay vận tải lớn C130 từ Philippines đến sân bay Tân Sơn Nhất đón cả gia đình Đô đốc Chơn di tản nhưng Đô đốc Chơn từ chối ra đi. Đất nước đã hòa bình thống nhất, người Việt không còn chia chiến tuyến bắn giết nhau nữa, việc gì phải ra đi! Người cha già yếu như ngọn đèn sắp tắt đã chọn mảnh đất quê để về với tổ tiên. Ở lại để được sống với đất nước thanh bình. Ở lại để được sống bên người cha như chiếc lá sắp rụng về cội.

Nếu những người cộng sản chiến thắng đã thu giang sơn về một mối thực sự có cái tầm của người làm chủ giang sơn rộng lớn, thực sự xứng đáng với vị trí đại diện cho dân tộc Việt Nam thì phải có tấm lòng bao dung của người Mẹ Việt Nam mở rộng vòng tay đón vào lòng những gia đình như cô chú tôi, như Đô đốc Trần Văn Chơn để hàn gắn lại nỗi đau chia rẽ dân tộc mà cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc tương tàn vừa qua đã gây ra. Nhưng những người cộng sản chiến thắng trong cuộc chiến đã không có được nghĩa cả của người chiến thắng, không có được tấm lòng của người Mẹ Việt Nam, không có được tư thế, tầm vóc lớn lao mà nhà nước của cả dân tộc Việt Nam phải có, không có được cái nhân nghĩa Việt Nam mà cha ông để lại: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân!

Nhà nước Việt Nam thống nhất của những người cộng sản vẫn chỉ là nhà nước của một giai cấp bần hàn, lấy đấu tranh giai cấp để tồn tại, vẫn đố kị, nhỏ nhen, chật chội, sắt máu trong ý thức hệ giai cấp phản dân tộc! Nhà nước nhân danh dân tộc nhưng lại lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc! Hàng loạt trại tập trung cải tạo thực chất là trại hận thù dân tộc, chia rẽ dân tộc mọc lên để giam cầm những người Việt Nam không cùng ý thức hệ giai cấp!

Chú tôi phải ở trại bảy năm! Đô đốc Trần Văn Chơn phải ở trại mười ba năm! Cha chết, ông cũng không được về làm phận hiếu với người cha! Thực tế đó cho những người như Đô đốc Trần Văn Chơn phải nhận ra rằng đất nước Việt Nam thân yêu không còn của cả dân tộc Việt Nam nữa rồi! Đất nước Việt Nam hôm nay chỉ còn là sở hữu của một giai cấp, giai cấp vô sản! Nhưng giai cấp vô sản lại chỉ là một khái niệm ảo, không có thật! Điều có thật là một nhóm người nhân danh giai cấp vô sản đã chiếm đoạt đất nước Việt Nam! Ra khỏi trại tập trung, Đô đốc Trần Văn Chơn phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi!

Trong trái tim những người phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi như vậy, lá cờ đỏ sao vàng của nhà nước Việt Nam cộng sản chỉ là lá cờ của nhóm người đang cầm quyền, không phải là lá cờ của dân tộc Việt Nam, lá cờ của đố kị, chật chội, hẹp hòi, lá cờ của hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc, lá cờ của đấu tố man rợ, của tù đày nghiệt ngã, lá cờ chà đạp đạo lí yêu thương Việt Nam, hủy hoại văn hóa nhân nghĩa Việt Nam, không thể là lá cờ của dân tộc Việt Nam!

Vì thế hầu hết các gia đình Việt Nam ở Mĩ đều cắm ở phòng khách, ở phòng làm việc hoặc ở góc riêng tư hai lá cờ: Lá cờ Mĩ, đất nước đã cưu mang họ và lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Người ta vẫn phải trương lá cờ của một chính thể không còn tồn tại chỉ để phủ nhận lá cờ của chính thể đang tồn tại nhưng là lá cờ hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc! Màu cờ vàng đã trở thành màu dân tộc, màu Tổ quốc, màu tập hợp của cộng đồng người Việt Nam ở Mĩ! Cuộc tập hợp càng lớn, màu cờ vàng càng rợp trời! Đây là hậu quả hiển nhiên của nhà nước nhân danh dân tộc nhưng không có tấm lòng bao dung dân tộc! Là câu trả lời của một bộ phận máu thịt dân tộc bị ruồng bỏ, bị phân biệt đối xử. Một mẩu bánh mì vẫn là bánh mì! Dù chỉ là một bộ phận nhỏ bé, thất thế của dân tộc Việt Nam, họ vẫn là dân tộc Việt Nam, họ phải có lá cờ tập hợp bộ phận nhỏ bé bị ruồng bỏ đó! Không thể chấp nhận lá cờ đỏ đã tù đày, phân biệt, loại bỏ họ, họ phải dùng lại lá cờ của quá khứ chia rẽ dân tộc, lá cờ vàng!

Kiên trì, bạo liệt thực hiện đấu tranh giai cấp sắt máu với dân tộc Việt Nam, chính những người cộng sản cực đoan ngộ độc học thuyết đấu tranh giai cấp, lấy giai cấp thống trị dân tộc đã làm cho lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên còn bền bỉ tồn tại đến hôm nay! Kiên trì, bạo liệt thực hiện đấu tranh giai cấp sắt máu với dân tộc Việt Nam, chính những người cộng sản Việt Nam đã làm cho lá cờ của khởi nghĩa Nam Kỳ, lá cờ của cách mạng Tháng Tám không còn là lá cờ của cả dân tộc Việt Nam nữa!
Back to top
 
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #7 - 07. Dec 2017 , 23:52
 
BỐ TÔI, NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA 

Bài viết nầy gởi đến cho những cô nhi tữ sỉ
    
Hãi Lê

Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “Ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.

Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ. Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe , cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim..vv…

Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.  Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng  suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.

Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.  Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.
Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục. Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín. Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.

Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi. Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
“Này Tammy”
Tôi thường trả lời “Dạ, gì thế bố?”
“Bố thương con nhiều.”
“Con cũng thế. I Love You!”
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắc là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại.)

Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền v.v…
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến đấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền Nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai.

Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.
Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”

Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”

Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.

Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương.
Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với giòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!”

Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác, tôi bỏ theo chiếc hộp kỷ niệm đời lính vào hòm cho bố, còn những chiếc khăn giấy tôi sẽ giữ mãi bên cạnh cả cuộc đời tôi.
Bây giờ thì những chiếc khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi.
Happy Father’s Day
Mừng Ngày  Của Bố
Mừng ngày Quân Lực 19/6/2011
 
Hải Lê

Back to top
« Last Edit: 07. Dec 2017 , 23:53 by LAM_SON »  
 
IP Logged
 
LAM_SON
Senior Member
****
Offline


I love YaBB 1G - SP1!

Posts: 254
Gender: male
Re: LÒNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Reply #8 - 07. Dec 2017 , 23:54
 
LỜI SÁM HỐI MUỘN MÀNG
                    Của người trí thức trẻ Lê Quốc Trinh

“Em muốn nhắn gửi những người bạn không đồng quan điểm với em rằng: ‘Chúng mình là người lớn. Hãy sống thế nào cho ra người lớn.’ Đừng để con trẻ phải gánh chịu. Đừng để con trẻ chất vấn vì đó đúng là một điều đáng nhục. Mình chính là nhân tố thay đổi xã hội, thay đổi thể chế để giúp Việt Nam trở nên tốt hơn, người dân Việt Nam được sống an nhiên hơn.”

– Anna Huyền Trang

Hôm nay ngày 3 tháng 3 năm 2015, tôi quyết định viết bài sám hối này để dứt khoát với những sai lầm trong quá khứ và nhân dịp chính thức xin lỗi tất cả người dân miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở xuống) cùng với hàng triệu người Việt Nam di tản trốn ngục tù cộng sản, đã hy sinh hay đang sinh sống khắp nơi trên thế giới.

Trước hết tôi xin tự giới thiệu. Tôi tên là Lê Quốc Trinh, sinh năm 1948 cư ngụ tại Canada từ năm 1967, là kỹ sư cơ khí về hưu, gia đình gốc Việt Nam, nuôi dưỡng con cái theo truyền thống Việt Nam. Cha mẹ tôi là người miền Bắc, 1945 di cư vào Nam.

Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam, tại Saigon thân yêu; tôi được hấp thụ một nền giáo dục cao thượng, nhân bản, nồng nàn yêu nước dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa; vì thế, tôi không thể nào quên công ơn của toàn thể nhân dân và chính phủ miền Nam đã góp phần đào tạo tôi thành một con người lương thiện, biết tư duy và có tình cảm.

Lời xin lỗi

Trước hết tôi thành thật xin lỗi cố tổng thống Ngô Đình Diệm vì hành động theo đuôi phong trào Phật giáo xuống đường chống đối chính phủ trong lúc không hiểu rõ nguồn cơn và sự thật của vấn đề. Năm 1963 tôi còn là một thanh niên trẻ tuổi bồng bột;

Là một học sinh trường trung học Võ Trường Toản, sát cạnh dinh tổng thống nên tôi dễ dàng bị lôi cuốn theo những đoàn biểu tình một cách thiếu ý thức. Qua đến Canada tôi tìm, hiểu được thêm nhiều chi tiết lịch sử, được nghe các nhân chứng kể lại về phong trào Phật giáo, và tôi truy ra được nguồn gốc của sự kiện. Tôi sẽ trình bày rõ thêm về vấn đề sau này.

Thứ hai, tôi thành thật xin lỗi gần hai triệu người tị nạn miền Nam Việt Nam đã vượt biển, vượt biên đi tìm tự do(1), vì những hành vi khi tôi sinh hoạt và đóng góp tích cực cho Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada (HVKYNTC), từ năm 1973 đến năm 1990.

Tôi đã vô tình tiếp tay cho một tổ chức ủng hộ và phục vụ cho Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là CHXHCN Việt Nam, làm những việc góp phần xây dựng cho một chế độ phi nhân bản, phản khoa học tại quê nhà. Tôi sẽ tiếp tục trình bày cặn kẽ những sự kiện xảy ra ở trong tổ chức này này để tất cả bạn đọc có thể thấy rõ bộ mặt thật của một nhóm người gọi là trí thức thân Cộng trong thời gian Hội còn hoạt động (1969-1990) và cho đến ngày nay.

Thứ ba, tôi thành thật xin lỗi các bác, các anh chị, công chức chính phủ và toàn thể các chiến sĩ, sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh để bảo vệ tự do – trong gần 21 năm, 1954-1975 – và đời sống của người dân miền Nam Việt Nam.

Tôi rời Sài Gòn, du học từ cuối năm 1967, nên không có công lao gì trong công cuộc chiến đấu đầy xương máu chống cộng sản xâm lược từ phía Bắc. Có quá nhiều tấm gương hy sinh quả cảm của sĩ quan và binh sĩ quân lực Việt Nam Cộng hòa mà tôi không biết đến, đó là lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Đến nay nhờ thông tin quảng bá trên mạng lưới Internet và qua thông tin cặn kẽ từ nhiều trang báo mạng hải ngoại mà tôi mới thực sự hiểu nỗi thống khổ và hy sinh của các anh chị, các bác trong hàng ngũ quân cán chính Việt Nam Cộng hòa.

Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi suy nghĩ

Thật tình mà nói, tôi đã hoạt động tích cực ở đủ mọi lĩnh vực trong một tổ chức thân cộng hơn 17 năm ròng nhưng không hề bị tư tưởng Mác Lê ảnh hưởng vì những yếu tố sau:

- Là người suy nghĩ độc lập, bướng bỉnh, không a dua và không quỵ luỵ từ nhỏ.

- Thích đọc sách, truyện, bị lôi cuốn theo lối sống miền Nam ngày trước, chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá miền Nam dân chủ tự do.

- Gần 40 năm hoạt động trong ngành công nghiệp khai khoáng và hoá dầu của Canada tôi đã học được nhiều điều hay về cách tổ chức, tư duy, cách làm việc trung thực của hệ thống tư bản Bắc Mỹ.

Điều này đã giúp tôi đã gạn bỏ đi nhiều tàn dư rơi rớt trong lối học từ chương của Việt Nam thời xưa cũng như tinh thần bảo thủ phương Đông; kinh nghiệm làm việc đã giúp tôi hiểu rõ xã hội tư bản hơn và tránh được cạm bẫy dụ dỗ của ý thức hệ cộng sản Mác Lê, và đã giúp cho tôi có cái nhìn chính xác về những con người trí thức thiên tả tháp ngà trong Hội VKYNTC.

- Tôi cũng có được những tấm gương yêu nước dưới thời thực dân Pháp từ những bậc tiền bối của gia đình. Ông ngoại tôi, cụ cử Nguyễn Hữu Cầu, ông bác tôi, cụ Từ Long Lê Đại, là hai trong số những sáng lập viên Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, đã từng bị thực dân Pháp bắt giam đầy ra đảo hơn 17 năm trời.

Bác tôi, cư sĩ Phật học nổi tiếng Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, người soạn ra bộ Hán Việt Tự Điển lừng danh, cũng từng bị Việt Minh đem ra đấu tố trong Cải Cách Ruộng Đất 1954 khiến ông đã phải trầm mình tự tử để minh oan. Tôi sẽ có dịp nói nhiều đến những kỷ niệm khó quên về mặt tâm linh với bác Hai Kha Thiều Chửu cùng con cháu hậu duệ đã giúp tôi lần dò tìm lại truyền thống yêu nước của giòng giõi nhà Nguyễn Đông Tác ở Hà Nội.

Là một trong những thành viên tích cực hoạt động giúp HVKYNTC vì tôi nghĩ rằng mình đang góp phần giúp ích cho quê hương; với kinh nghiệm của một kỹ sư cơ khí thích thiết kế và sáng tạo, tôi là người phụ trách chính về công cuộc cải tạo xây dựng lại Hội quán, số 1450 đường Beaudry, Montreal, giúp cho Hội đoàn này có cơ sở vật chất vững mạnh để phát triển thịnh vượng từ năm 1984 đến 1990.

Và tôi cũng có một số hiểu biết nhất định về nhiều vấn đề liên quan đến những công ty kinh doanh do một số nhân vật trong ban lãnh đạo Hội đứng đầu. Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở những bài sau.

- Mẹ tôi là một hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam, tận tuỵ tần tảo hy sinh xây dựng gia đình, nuôi nấng con cái. Nhà in Hưng Long, ở Chợ Cũ Saigon, do mẹ tôi thành lập từ 1960, đã từng in ấn rất nhiều kinh sách nhà Phật. Tôi là thầy cò, có trách nhiệm kiểm tra văn tự, lỗi chính tả trước khi lên khuôn. Do đó tôi có cơ duyên tiếp xúc với triết lý nhà Phật sớm; sau này, qua nhiều tác phẩm của bác Thiều Chửu tôi lại có dịp tìm hiểu nghiên cứu thâm sâu về đạo Phật.

Mạng lưới Internet cùng với nhiều diễn đàn đã giúp tôi hiểu rõ phong trào Phật giáo thời 1963, cùng với kinh nghiệm sống trong xã hội tự do dân chủ tư bản ở Bắc Mỹ đã khiến tôi đã phải tự thay đổi tư duy để có quan điểm đúng đắn về lĩnh vực tôn giáo tâm linh.

- Tôi là người thích âm nhạc từ nhỏ, tự học thổi sáo, chơi khẩu cầm, đánh đàn mandoline, và tôi đã đi vào thế giới tân nhạc Việt Nam với cả trái tim nồng nhiệt. Tôi đã từng mời nhiều em khiếm thị ở trường Mù Saigon đến nhà giúp tôi học thêm về lý thuyết và thực hành âm nhạc.

Tôi biết đến nhạc tiền chiến rất sớm, thưởng thức nhiều bản nhạc xa xưa ngay tại miền Nam trong những năm 1960, những tác phẩm mà chính quyền cộng sản miền Bắc đã nghiêm cấm. Tôi sưu tầm những bản hùng sử ca Việt Nam từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp để hiểu rõ thêm bối cảnh lịch sử và tâm tư của nhiều nhạc sĩ dân gian nổi tiếng. Tôi sẽ trình bày cặn kẽ thêm sau này.

Đối tượng của lời sám hối

Tôi biết trước những hậu quả khó tránh khỏi khi viết bài đăng tải rộng rãi trên các trang báo Mạng. Trước tiên là tình bạn hữu có thể sẽ bị sứt mẻ trầm trọng với những người tôi từng sát cách sinh hoạt trong HVKYNTC; sau nữa là những thay đổi có thể có trong quan hệ gia đình từ Canada cho đến Việt Nam. Tôi chấp nhận tất cả và xem như đó là cái giá có thể phải trả; tôi sẽ chấp nhận, chịu đựng mọi hệ quả để lương tâm được thanh thản không còn bị giầy vò.

Tuy nhiên, tôi xin phép có đôi lời nhắn gởi đến với tất cả các anh chị bạn bè quý mến trong Hội.

Thân gửi các anh chị em quý mến trong Hội,

Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi phản ứng của các anh chị em hơn hai năm qua, từ khi tôi viết và đăng trên Mạng bài “Sự thật nằm sau bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958”(2). Tôi đã gửi riêng cho các anh chị bài viết đó qua e-mail để giúp các anh chị tìm hiểu rõ hơn nội dung bức công hàm và bối cảnh lịch sử xung quanh sự kiện rất quan trọng này. Thế nhưng tôi đã hoài công và vô cùng thất vọng, vì không được một câu trả lời dù đồng ý hay phản đối lập luận của tôi. Tôi xin phép được nhắc lại bài viết đó để anh chị đọc lại và cho cộng đồng người Việt hải ngoại cùng xem và phê phán.

Hai năm trôi qua, những gì xảy ra ở Biển Đông, xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã đủ để chứng minh cho những lập luận, phân tích và nhận định của tôi.

Trung Quốc càng ngày càng hung hăng, xâm lấn ngang ngược. Trong khi đó thì tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước CHXHCN Việt Nam lại càng co vòi, lép vế, ngậm miệng nín khe. Họ cùng ngồi yên, nhìn ngư dân Việt Nam bị cướp phá uy hiếp.

Tất cả đều chứng tỏ lãnh đạo Việt Nam chỉ là một bè lũ bù nhìn, bán nước. Họ đã lấy giang san lãnh thổ đem bán – bằng văn tự – cho lũ láng giềng hung tợn phương Bắc, để nhận được viện trợ vũ khí đạn dược, nhiên liệu thực phẩm, hầu thực hiện mưu đồ chiếm nốt miền Nam trù phú phì nhiêu.

Trong khi đó, ngay sau khi Trung Quốc đưa Tuyên bố về Lãnh hải ngày 4 tháng 9, 1958 chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bằng hành động, đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở đảo Quang Hòa(3) và ở quần đảo Hoàng Sa bằng trận hải chiến năm 1974, cũng như những công văn gởi đến Liên Hiệp Quốc phản đối CHNDTH vi phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam(4).

Các anh chị theo dõi sát tình hình Biển Đông từ lúc dàn khoan HD-981 lừng lững đi vào lãnh hải Việt Nam và ngang nhiên cắm sào thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Các anh chị cũng đã xuống đường phản đối theo đúng chỉ thị… rồi sau đó mọi việc, một cách êm thắm, lại đâu vào đó. Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang nhiên xâm phạm biển đảo Việt Nam, và anh chị vẫn im hơi lặng tiếng.

Đó có phải là hành động và tư cách của những con người trí thức hải ngoại, những người đã từng hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, khai phóng của miền Nam Việt Nam, những người từng vỗ ngực tự xưng là Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada?

Tôi rất mong các anh chị suy nghĩ lại, đặt quyền lợi đất nước và con người Việt Nam lên trên tất cả mọi quan hệ lợi nhuận riêng tư với chế độ cộng sản đương quyền, để cùng nhau lên tiếng sám hối vì an nguy của cơ đồ tổ quốc.

Cơ hội để cứu nguy cho đất nước không còn nữa đâu! Hơn 60 năm qua, chủ nghĩa cộng sản ngấm quá sâu vào não trạng người dân miền Bắc, toàn thể Bộ Chính trị đảng cộng sản và tập đoàn lãnh đạo Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã và đang bị thế lực từ phương Bắc uy hiếp, mua chuộc, ly gián.

Bài học lịch sử về tình báo, nội gián Trọng Thủy-Mỵ Châu vẫn là tấm gương lớn cho hậu thế luận cổ suy kim. Giặc bên ngoài và bè lũ tay sai nội gián bên trong đã và đang gặm nhấm, bào mòn truyền thống yêu nước chống xâm lược của dân tộc, các anh chị chưa thấy sao?

Nếu quả thật văn kiện bí mật từ Hội Nghị Thành Đô năm 1990(5) có thật, vì Đảng và Nhà Nước Việt Nam vẫn còn ngậm miệng nín khe trước sức ép dư luận trong nước [xem thêm Kiến Nghị của 61 vị nhân sĩ tướng tá QĐND Việt Nam năm 2014], thì chúng ta chỉ còn không tới 5 năm để lên tiếng phản kháng và để nuôi hy vọng dân tộc Việt Nam sẽ thoát khỏi ách thống trị Đại Hán. Các anh chị không cảm thấy quan tâm, áy náy và trăn trở trước vấn đề nghiêm trọng này hay sao?

Nguyện vọng tương lai

Nghĩ lại thời gian đã qua, tôi thầm tiếc nuối cho một đời thanh niên đã bị lừa dối, bị đánh cắp, và cảm thấy rất ăn năn vì đã không trực tiếp góp phần với cuộc đấu tranh đòi lại công lý cho toàn thể nhân dân miền Nam.

Tôi cảm thấy xấu hổ khi có lúc đã sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền của chủ nghĩa cộng sản một cách vô ý thức.

Nay là lúc cần phải phân tích và tìm hiểu cặn kẽ, nhận định rạch ròi xem ai mới chính là những kẻ “phản động, phản quốc, bù nhìn, tay sai ngoại bang”. Như thế là một phần nhỏ góp vào việc viết đúng sự thực lịch sử Việt Nam cận đại, đặt quân cán chính và người dân miền Nam Việt Nam cũng như hàng triệu người tị nạn cộng sản khắp nơi vào đúng vị trí trong lịch sử nước nhà. Lời sám hối của chúng ta có thể là những nhúm lửa nhỏ đốt cháy những ngôn từ tuyên truyền của tập đoàn cộng sản đang tiếp tục lừa bịp nhân dân Việt Nam và cả những thế hệ tiếp nối của chúng ta.

Tôi rất mong được đứng nghiêm, chào lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa và cất cao tiếng, hát bài Tiếng Gọi Thanh Niên (Quốc Ca Việt Nam Công hòa) ngày trước. Tôi rất mong được trở về quê hương như một kỹ sư đã nghỉ hưu, đem 40 năm kinh nghiệm ở xứ người góp phần phục vụ đất nước trước khi chết.
Back to top
 
 
IP Logged
 
Page Index Toggle Pages: 1
Send Topic In ra